Friday, April 21, 2017

Giáng Sinh xưa - Can’t take you off my mind (17)

Đêm ấy tôi lại trăn trở. Sau cuộc nói chuyện với Jacqueline và Phyllis, cảm xúc phức tạp cứ cuồn cuộn dâng trào trong lòng. Tôi cảm thấy áy náy khi B đã lăn xả vào đám cháy mong cứu tôi và đã lo lắng cho tôi rất nhiều, trong khi tôi đang tận hưởng những điều đẹp đẽ thanh tao nhất, chìm ngập trong niềm hân hoan náo nhiệt khi thời khắc giao thừa đang đến gần. Và nhất là ở bên một người khác trong một không khí thân mật hơi bất thường đêm ấy. Nhưng nếu vào một hoàn cảnh khác, khi Jessie đồng ý đi chơi với B ở nơi anh thích thì liệu việc ấy có cân bằng được tâm trạng của tôi lúc này không? Tôi nhận thấy mình không vui khi tưởng tượng đến phiên bản ấy, và tự hỏi lòng mình có đang tự mâu thuẫn hay không, rồi tôi cố suy diễn để tự ngụy biện cho những suy nghĩ đang chồng chéo xoắn xéo trong đầu. Rất có thể, việc anh lo lắng về sự an nguy của tôi cũng rất bình thường. Bất kỳ người lính cứu hỏa nào cũng đặt công tác cứu người lên hàng đầu, tôi lại là người anh quen biết nên anh mới đặc biệt chạy đi tìm tôi trước mà thôi? Nhưng tại sao trong đêm tiệc Giáng Sinh ấy khi Jessie đến và kéo anh đi, trong đôi mắt anh như có mây đen báo hiệu một cơn giông tố sắp đến? Tôi xâu chuỗi các sự kiện lại với nhau để cố giải mã một điều gì đó nhưng càng cố thì lòng tôi càng rối bời vì mọi việc chẳng ăn nhập gì với nhau cả. Cả Jacqueline nữa, sau bao ngày chẳng hề đề cập đến B thì nay lại kể cho tôi nhiều chi tiết về anh đến thế?

Rồi tôi nghĩ đến người đàn bà phúc hậu Phyllis. Bà ấy trông rất lành, một mẫu người dễ chịu và luôn tạo thiện cảm cho người mới gặp lần đầu một cách chân thành. Theo lời Jacqueline, họ quen nhau ở một hội sinh hoạt của người Pháp, và mặc dù Phyllis không phải người Pháp nhưng bà từng du học ở đấy và rất yêu thích ngôn ngữ và văn hóa của đất nước này. Ngoài Le Chat Noir, bà còn sở hữu một cửa hiệu bé xinh bán giày, phụ kiện thời trang, và … sô cô la từ Pháp. Tôi nghĩ đến điều bà hỏi tôi ban sáng, và lại trăn trở. Tôi là người tâm linh, đó là điều có thật, thế nên tôi hiểu rất rõ khi bà hỏi tôi những điều có liên quan đến tâm linh như thế. Có một dạo, thời còn học trung học, hễ đêm nào tôi nằm mơ thấy ai thì y như rằng đó sẽ là người tôi gặp đầu tiên vào buổi sáng. Nhưng khi tôi thích thú cố gắng nghĩ đến người tôi đang thầm yêu trộm nhớ và muốn mơ thấy người ấy để sáng sớm có thể gặp người ấy ngay thì chẳng bao giờ thành công! Trời bất dung gian, cứ mỗi khi tôi cố “ép” giấc mơ đi theo ý muốn của mình thì tôi lại nằm mơ thấy người tôi không ưa, và dĩ nhiên, đó sẽ là người tôi chạm mặt trước hết vào khởi điểm của một ngày mới. Sáng nay khi đang cao hứng nói chuyện về đề tài tâm linh với hai người phụ nữ ấy, tôi suýt kể cho họ nghe chuyện những giấc mơ kỳ quái của tôi, nhưng rồi lại quyết định không kể. Tính tôi rất riêng tư, ít khi tâm sự chuyện cá nhân của mình với người khác, thậm chí với bạn thân thì tôi cũng rất chọn lọc việc nào kể việc nào không. Về vấn đề tâm linh này, tôi không thể chối cãi cảm nhận rất rõ của mình khi lần đầu tôi chạm mặt với B, thậm chí khi anh đang đứng khuất trong bóng cây và lúc chưa kịp nhìn rõ mặt anh thì tôi đã cảm nhận một sự thân quen nào đó rất dễ chịu. Dĩ nhiên khi ấy tôi đã chẳng nghĩ gì đến tiền kiếp hay hậu kiếp, nhưng sau khi gặp Phyllis xong thì chỉ biết dùng khái niệm này để định nghĩa cảm giác của mình lúc ấy mà thôi.

.

Cuộc gặp sáng nay với bố Bear diễn ra trôi chảy trong không khí thân mật và ấm cúng, tôi rất thích được nhìn ông thật tự hào khi khoe những tấm ảnh ấy với hai người đàn bà mới gặp như lần ông cho tôi và David xem hôm trước Tết nọ. Rồi khi đang ngon trớn kể chuyện xưa, cũng là những câu chuyện tôi đã được nghe hôm ấy, ông lại quay sang tôi và bô bô hỏi về David, về đêm giao thừa ở Le Chat Noir khiến tôi có cảm giác như kẻ ăn vụng vừa bị bắt quả tang và nhột nhạt khắp toàn thân. Tôi đâm bực bội với mặc cảm tội lỗi vô duyên vô căn cứ này, bởi vì việc tôi đi chơi với người tôi thích là chuyện cá nhân của tôi, cớ sao tôi cứ mãi lo lắng về việc người khác nghĩ về tôi như thế nào? Vả lại, cách Jacqueline nói về B và Jessie khiến tôi có cảm giác họ quen nhau đã lâu lắm, ở một mức thân mật đã liên quan đến gia đình hai bên cũng không chừng. Thế là tôi rũ bỏ tất cả những suy nghĩ đang khiến lòng rối như tơ vò mà mạnh dạn trả lời bố Bear, nhân tiện tôi cũng không quên ca tụng quán thật nhiệt tình để nói càng ít về David càng tốt, và cố lờ đi cái nhướn mày đầy thắc mắc của Jacqueline. Nhưng bà ấy chẳng nhận xét gì, và tôi mừng thầm trong lòng, cảm ơn bà đã tế nhị tránh cho tôi thêm một việc khó xử. Tôi cũng vừa kết thêm một người bạn mới là Phyllis. Tôi không ngờ bà hạnh phúc đến thế khi nghe những lời tốt đẹp về Le Chat Noir, khi ấy tôi lờ mờ hiểu rằng niềm đam mê quan trọng đến mức nào trong việc góp phần to lớn cho thành công trong cuộc sống, và cũng đủ để người ta sống chết vì một nghề nghiệp, sở thích, hay lý tưởng nào đó trong đời. 

.

Phyllis ăn chay và theo đạo Phật. Từ khi quen biết tôi, bà tỏ rõ sự quan tâm ưu ái đặc biệt cho tôi khiến tôi phát ngại. Tôi quen sống sâu kín với bản thân, ít biểu lộ cảm xúc nên người mới gặp tôi thường có cảm giác tôi hơi lạnh lùng và không thân thiện lắm, nhất là gặp trên điện thoại thì thôi rồi, họ không thấy được ngôn ngữ cơ thể thì họ càng tin vào điều ấy hơn nữa! Tôi quen nhiều người nhưng lại ít bạn, mà một khi đã là bạn thì thường là bạn ở tầm tri kỷ, là những người hợp cạ với tôi và đủ tin cậy để tôi trải lòng cùng. Dường như tôi và Phyllis có sự kết nối tâm linh nào đó, là bà tin và cảm nhận như thế, nên bà có vẻ rất thích tôi và hay khuyến khích tôi trò chuyện về những đề tài sâu sắc, vốn không dễ cho những người mới quen sơ như chúng tôi. Có thể chúng tôi cũng đã quen nhau trong tiền kiếp rồi cũng nên, thế nên hôm nay bà mới tự nhiên và quý mến người mới gặp lần đầu lại là đứa hay giữ kẽ như tôi. Việc một người phương Tây lại ăn chay và theo đạo Phật như Phyllis là điều tôi chưa bao giờ nghĩ đến, cho nên tôi khá ngạc nhiên, và nhất là trong khi tôi đến từ một xứ sở giàu truyền thống Phật giáo lại chẳng mảy may quan tâm gì đến nó cả. Jacqueline có gốc Công giáo La Mã, nhưng bà bị ảnh hưởng bởi Phyllis và đã bắt đầu tìm hiểu nhiều hơn về Phật giáo và đã cùng tập thiền với Phyllis khá đều đặn. 

- Từ khi tập thiền, tôi thấy mình kiên nhẫn hơn, tư duy rõ ràng mạch lạc hơn, và nhất là bệnh đau nửa đầu cũng giảm hẳn. - Jacqueline hào hứng kể - nếu cháu rảnh thì hãy tham gia cùng chúng tôi, biết đâu cháu sẽ thích. 

Hồi đó, khi nghe đến thiền là tôi cứ mường tượng mấy ông già râu tóc bạc phơ ngồi xếp bằng bất động trong nhiều giờ liền, như trong mấy phim võ hiệp cổ trang tôi từng xem hồi mới lớn. Thế nên khi nghe họ rủ rê là tôi đâm hoảng! Làm sao tôi có thể ngồi yên bất động trong nhiều giờ liền như thế được. 

- Ô là la, làm gì có chuyện ngồi yên mấy tiếng đồng hồ! - Jacqueline cười lớn - có lớp học hẳn hòi đấy, cháu yên tâm. Người mới tập thì sẽ học kỹ thuật trước, rồi bắt đầu chừng mười lăm phút thôi, sau sẽ tăng dần. Mai chúng ta đi nhé?

Tôi thích cách Jacqueline dẫn dụ người khác một cách hơi bất ngờ nhưng luôn thuyết phục như thế này, giống như lần bà bắt đầu dạy dương cầm cho tôi vào cùng ngày chúng tôi vừa bàn đến việc ấy, và ngay lần đầu gặp gỡ. Tôi đang suy nghĩ có nên bỏ buổi tập yoga với Kim để đi thiền với hai người phụ nữ đặc biệt này hay không thì Phyllis đã tiếp lời Jacqueline. 

- Lớp cũng có vài người trẻ đấy, cháu sẽ thích. Và thầy hướng dẫn cũng rất nhiệt tình. Ở đấy cũng có lớp yoga trước buổi tập cho thiền sinh mới, cháu có thể đến sớm để tập yoga với Jacqueline. 

.

Dậy sớm vào sáng sớm mùa đông, lại vào ngày cuối tuần, đối với tôi thật không dễ, nếu không muốn nói là cực hình. Tôi vốn là con cú đêm, cho nên thường có xu hướng ngủ nướng vào buổi sáng mới đủ giấc, nhưng tôi đã nhận lời đi tập yoga cùng Jacqueline nên đành ép mình đi ngủ sớm vào buổi tối hôm trước. Lớp yoga khá vắng, vì bắt đầu từ sáu giờ ba mươi sáng, và Jacqueline đến đón tôi lúc sáu giờ. Đường vắng nên chúng tôi đi chỉ mất mười phút đã đến nơi. Jacqueline chu đáo mang theo hai cái bánh sừng trâu và hai quả chuối, bà chia cho tôi một nửa, và chúng tôi uống cà phê mà nhân viên phòng tập đã pha sẵn trong máy cho khách. Ăn uống xong thì tôi cũng vừa tỉnh ngủ, nhưng vẫn không tránh khỏi việc vừa tập vừa ngáp sái quai hàm khiến Jacqueline phải bật cười. 

Phòng tập thiền thuộc về một ngôi chùa của Phật giáo Tây Tạng vừa được xây vài năm trước. Chùa được xây bằng gạch đỏ, thiếp vàng ở các đường viền, đây cũng là hai màu đặc trưng của các chùa và trang phục tu sĩ của hệ phái này. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy chùa không được xây theo kiến trúc đặc trưng của Tây Tạng mà lại mô phỏng kiểu nhà thờ Thiên Chúa giáo, với chóp nhọn cao ở đỉnh và nội thất hiện đại. Nhập gia tùy tục, có lẽ muốn truyền đạo ở nơi Thiên Chúa giáo thống lĩnh như thế này thì phải ứng dụng những hình ảnh quen mắt với đại đa số người dân rồi mới từ từ thuyết giảng giáo pháp vốn vẫn còn được xem là xa lạ và mới mẻ này. Trụ trì chùa là một ni cô người Mỹ, tuổi chừng ngoài năm mươi, dáng người nhỏ nhắn linh hoạt, gương mặt hiền lành phúc hậu và đôi mắt như luôn mỉm cười. Bà là đệ tử của một vị lạt ma người Tây Tạng, người đã làm việc không ngưng nghỉ để vận động thuyết pháp và truyền giáo trong nhiều năm, và cuối cùng đã thành công trong việc xây dựng ngôi chùa bé xinh và khang trang như hiện tại. Ông đã trụ trì chùa trong vài năm đầu và cuối cùng bàn giao lại cho ni cô này, vì theo ông, đã đến lúc ông phải đến những vùng đất khác để tiếp tục sứ mệnh truyền giáo sau khi đã hoàn tất công việc tại đây. 

Tôi thật ngỡ ngàng vì thứ nhất, tôi không ngờ mình lại có duyên bước vào một ngôi chùa Phật giáo ở trời Tây như thế này; thứ hai, tôi cảm thấy các bức tượng Phật tại đây thật xa lạ, rất khác với hình ảnh các vị Phật tôi từng quen thuộc khi đi chùa với má ngày trước. Nhưng tôi đã quen với việc chắp tay để vái chào các vị ni sư và tôi tự nhiên làm việc ấy khi gặp bà ni cô trụ trì khiến bà có vẻ rất vui và cũng chắp tay chào tôi lại. Phyllis nhìn tôi thích thú, mỉm cười hồn hậu rồi khẽ gật đầu như thể tôi vừa đạt mức yêu cầu trong một cuộc trắc nghiệm nhỏ trước khi bước vào kỳ thi chính thức. 

Sau khi tập yoga xong, người tôi giãn ra rất sảng khoái nên việc ngồi yên trong một thời gian dài không có gì khó khăn lắm. Phòng tập thiền nằm tại góc khuất ở mặt sau của chùa, và cửa ra vào ăn thông với sân vườn vốn sẽ xanh rờn và đầy hoa vào những ngày xuân sắp tới. Phyllis khuyên tôi nên mặc thêm áo khoác nhẹ và trải một tấm chăn mỏng lên chân để giữ ấm khi ngồi thiền, và tôi thật biết ơn bà đã chu đáo như thế với tôi vì việc này vô cùng cần thiết khi ngồi yên bất động trong mùa đông như thế này. Chúng tôi ngồi xếp bằng trên một tấm đệm mỏng, hai tay thả lỏng và nghỉ trên gối, lưng thẳng, mắt cụp xuống sàn và lắng nghe lời thầy hướng dẫn. Vào đây học mới biết bản thân thiền cũng có nhiều hệ phái khác nhau với cách thức và mục tiêu thực tập khác nhau, và nơi đây dạy thiền vipassana - thiền minh sát - cũng quán chiếu hơi thở nhưng lại theo dõi chuyển động lên xuống của vùng bụng khi thở ra và hít vào, và từ đấy theo dõi các cảm nhận và cảm xúc của thân và tâm để rồi cuối cùng, quán chiếu về lẽ vô thường của đời sống và từ đó đạt đến ngưỡng nhập định và giải thoát. Tôi không có tham vọng đạt đến các cảnh giới cao xa như thế qua thiền định, nhưng lại có một ước vọng nho nhỏ là thông qua thực tập thiền, tôi sẽ có khả năng tập trung tốt hơn, trí nhớ được tăng cường hơn và do đó, suy nghĩ cũng sáng suốt hơn. 

Sau khi nghe qua phần lý thuyết ngắn gọn, các thiền sinh mới bắt đầu nhắm mắt lại và thực hành. Không gian tĩnh mịch hòa quyện với hương trầm thoang thoảng trong gian phòng gợi nhớ trong tôi những ngày đi chùa thắp nhang bái Phật với má, và cứ thế tâm tôi lại lan man nhớ lại những tháng ngày ấy mà quên mất nhiệm vụ chính lúc này là theo dõi hơi thở và theo dõi thân tâm. Rồi khi giật mình trở về hiện tại, tôi lại nghĩ đến vùng bụng, nơi hơi thở ra vào khiến nó nâng lên hạ xuống, tôi thấy mình chẳng quán chiếu gì được cả và bắt đầu cảm thấy chán, lại muốn nghĩ đến những chuyện khác làm cho tôi vui và thích thú hơn. Cứ thế, tôi cứ tự chơi trò đuổi bắt với tâm, mỗi khi nó đi đâu lan man thì tôi vui vẻ với việc ấy một chút, rồi lại kéo nó về, bắt nó phải theo dõi hơi thở như đã được chỉ dẫn. 

Tiếng chuông đồng âm vang nhè nhẹ báo hiệu mười lăm phút đầu vừa qua, các thiền sinh mới có thể ngưng tập vào lúc này nhưng khi tôi liếc mắt nhìn sang hai bên thì thấy hai người bạn của tôi vẫn ngồi im bất động, thế là tôi quyết định ngồi tiếp mười lăm phút nữa xem thế nào. Lần này, tâm tôi còn dao động mạnh hơn cả lần trước, vì tôi không còn nhớ những ngày đi chùa xưa mà tôi lại nghĩ đến một người. Tôi chẳng hề mảy may có ý muốn nghĩ đến người ấy nhưng tâm tôi đã dao động đến mức mất kiểm soát, và khi nó bắt đầu nghĩ đến người ấy thì tôi như có cảm giác như đang lạc vào một cái lưới nhện mềm mại như lụa và êm ái như tơ, nơi ta chỉ muốn dừng chân nghỉ và tạm quên hết mọi sự trên đời, rồi chỉ biết tiếp tục phiêu du bất định vào chốn bồng lai tiên cảnh mà nó vẽ vời, giăng bẫy …

Monday, April 10, 2017

Giáng Sinh xưa - Were we lovers in a past life? (16)

Tôi nhớ Jacqueline và chất giọng Pháp của bà, cùng với vài từ Pháp mà thi thoảng bà lại chêm vào lời thoại, chẳng hiểu sao tôi cảm giác nó tao nhã và quý phái thế nào. Ngày xưa ba tôi từng học “trường Tây”, và tôi nhớ trong những câu chuyện của người lớn, khi ba nói chuyện với mấy ông bạn xưa, lâu lâu tôi lại nghe vài từ “tiếng Tây”. Tôi vốn hay tò mò, sau khi họ về thì tôi lại hỏi ông những từ “lạ” mà tôi hóng hớt được có nghĩa gì, và mặc dù ba đã nghiêm mặt dạy tôi rằng con nít không được hóng hớt khi người lớn nói chuyện, nhưng vẫn giải nghĩa những từ tôi hỏi để thỏa trí tò mò cho tôi. Về sau, ba thấy tôi có vẻ thích ngoại ngữ nên ông bắt đầu dạy tiếng Pháp cho tôi, và khuyến khích tôi đọc nhiều sách. Trong đời thường, tôi để ý ông cũng hay dùng một số từ vựng Pháp khi nói chuyện với người khác. Tôi nghĩ đó là do thói quen lâu ngày chứ không phải ông thuộc dạng người thích chứng tỏ ta đây, ông không xưng hô “toa” và “moa” như một số trí thức cùng thời, và cũng chẳng cố tình chêm tiếng Tây khi nói chuyện để phân biệt bản thân mình với những người thất học. Và tôi nghĩ Jacqueline cũng vậy, bà chêm tiếng Pháp theo thói quen, chứ chẳng phải để làm màu mè gì. 

Jacqueline về Pháp hai tuần vì lý do đột xuất, bố của bà không khỏe nên bà phải vội vã về thăm, và tôi đã chẳng tập tành gì trong hơn một tuần nghỉ Giáng Sinh và năm mới. Lý do là trường đóng cửa, và Jacqueline thì không có ở nhà, nên tôi chẳng có nơi để tập đàn. Bà rất không hài lòng khi nghe tin này, nhưng không phải bà bực tôi, mà là bực ông con trai của bà. 

- Tôi đã bảo nó nhắn với cháu cứ sang nhà tôi tập đàn trong thời gian tôi đi vắng, và chỉ bảo thêm cho cháu, thế mà nó lại quên. Thà rằng cháu chỉ tập mười lăm hai mươi phút mỗi ngày, như thế vẫn tốt hơn nhiều so với việc bỏ dở vài ngày rồi lại tập dồn dập mấy tiếng trong một ngày. Tôi thấy cháu tiến bộ rất nhanh, ngoài một con bé mười tuổi khác mà tôi từng dạy thì cháu là người học nhanh nhất mà tôi từng biết đấy. 

Tình huống này khá bất thường, thứ nhất là Jacqueline chưa bao giờ nhắc đến B với tôi, thứ hai, tôi nghĩ có lẽ B có lý do riêng. Tôi thoáng nghĩ đến cô gái tóc vàng trong đêm tiệc Giáng Sinh hôm nọ và suýt buộc miệng nói việc ấy với Jacqueline, nhưng rồi tôi quyết định không nói gì. Tôi không muốn xáo trộn đời tư của ai cả, và nhất là khi việc ấy có liên quan đến mình, tôi cũng muốn bình yên cho bản thân, sau khi vừa xong một cuộc sóng gió khiến tôi vô cùng mỏi mệt. Và nếu nói việc của B ra thì trông tôi sẽ rất vô duyên. Không, cũng may tôi đã quyết định đúng đắn. Rồi bà hỏi thăm tôi về đêm giao thừa khi khu chung cư tôi ở bị cháy, và nói thêm. 

- Đêm ấy B cãi nhau với Jessie, vì con kia muốn đi hộp đêm đón năm mới trong khi B lại thích một nơi thanh tịnh ấm cúng. Cuối cùng hai đứa nó chẳng đi đâu với nhau và B ở nhà một mình. Đêm xảy ra hỏa hoạn, B có mặt trong đội chữa cháy đấy. Nó là tình nguyện viên trong trạm cứu hỏa từ thời còn ở Học viện Hải quân, khi nào đi công tác xa nhà thì thôi, chứ khi về lại thành phố thì nó vẫn phục vụ trong trạm cứu hỏa. 

À, thì ra cô nàng cũng có một cái tên! Tôi lẩm bẩm trong đầu, mừng vì đã không phải nhắc đến cô ta trước. Jacqueline tạm ngừng và nhìn tôi bằng ánh mắt hơi khác lạ khiến tôi không thoải mái. 

- Nó đã rất lo cho cháu trong đêm ấy. Vì chẳng biết căn hộ của cháu ở khu nào, nó đã chạy quáng quàng hỏi khắp nơi …
- Ôi thế à … - tôi chỉ biết nói thế - hy vọng B không sao …
- Nó bị bỏng trong khi … - Jacqueline đột ngột chuyển sang ý khác - nó chỉ biết cháu sống ở tầng trên cùng, mà đêm ấy tầng ba lại là tầng bị cháy, thế nên nó đã rất sợ. 
- Cháu cảm kích việc ấy … 

Tự dưng tôi cảm giác mình và Jacqueline như đang dùng mật mã để nói chuyện với nhau vì cả hai đều như đang cố tránh nói thẳng hoặc thừa nhận một sự thật nào đó.

- Thế, anh ấy đã kể mọi việc cho cô rồi …
- Hai mẹ con tôi rất thân nhau - Jacqueline mỉm cười hồn hậu - từ lúc bốn, năm tuổi, nó đã luôn thắc mắc tại sao nó không thể cưới tôi, và bảo nếu không cưới được mẹ thì nó cũng chẳng muốn cưới ai hết! 

Tôi ngắm kỹ gương mặt Jacqueline, và nhìn thấy đôi mắt của B trên ấy. Anh có đôi mắt rất giống mẹ, mặc dù màu mắt rất khác nhau nhưng sự biểu cảm trong ấy thì không sai đi đâu được, cộng với cái nhướn mày mỗi khi họ thích thú một điều gì đấy khiến cho gương mặt họ trông có vẻ gì đó hơi tinh nghịch và hài hước. Tôi cố hình dung lại ngoại hình của B thì thấy anh chẳng giống mẹ chút nào, chỉ giống có đôi mắt ướt át ấy thôi. Hay là anh ta giống bố? Tôi chợt nhận ra, Jacqueline chưa bao giờ nói gì về chồng mình, và tôi cũng chưa bao giờ gặp ông ấy. 

- Thế, cháu đi chơi ở đâu vào đêm ấy?

Trời, câu hỏi mà tôi sợ nhất giờ đây đã rơi phịch trước mặt, bắt tôi phải đối diện và giải quyết. Tôi lí nhí trả lời, gần như không nghe tiếng của chính mình. 

- Cháu đi nghe nhạc ở Le Chat Noir. 
- Ô là la, cháu đã đến đấy thì chắc chắn sẽ không phí thời gian? Tôi là bạn của bà chủ nơi ấy đấy. 

Đến lượt tôi hào hứng. 

- Cô có hay gặp bà ấy không? Vì cháu có một việc nhỏ muốn nhờ cô giúp. 
- Dạo này thì chúng tôi ít gặp, vì dịp cuối năm, nhưng giờ đây có lẽ sẽ gặp nhau thường xuyên hơn. Trong những lần gặp mặt với các bạn của tôi, lẽ ra cháu đã có dịp gặp bà ấy đấy, nhưng bà ấy bận rộn suốt nên đã chẳng tham gia được. Thế cháu muốn nhờ việc gì?

Tôi kể cho Jacqueline nghe về bố Bear và bà Rosalyn, và mong bà chủ Le Chat Noir cho treo ảnh hai ông bà như những nghệ sĩ đầu đàn trong lịch sử của quán, ngoài ra, ông bà còn có rất nhiều ảnh mang tính tư liệu quý giá khác về quán mà họ sẽ rất thích. Jacqueline có vẻ rất phấn khởi, bà gật đầu tán thành ngay. 

- Việc ấy thì tôi ủng hộ hoàn toàn! Cháu thấy đấy, tôi rất thích lịch sử nghệ thuật. Đây là việc nên làm, để nhắc nhở các thế hệ nghệ sĩ sau này về những con người tuyệt vời của thế hệ trước. 

Tôi mừng quá, cảm giác chỉ muốn ba chân bốn cẳng chạy về nhà và báo tin cho ông bà Bear biết, rồi chợt nhớ ra rằng mình vẫn chưa gặp bà chủ quán kia. 

- Hay là cháu nói chuyện trước với ông bà ấy, nếu họ chấp thuận thì cháu sẽ cho cô biết để hẹn gặp bà bạn của cô?
- Thế cũng tốt, đúng ra phải hỏi ý kiến của họ trước. Tôi cũng nôn được xem những bức ảnh quý giá ấy!

May mà Jacqueline không hỏi gì thêm về bạn đi cùng của tôi trong đêm giao thừa ấy, vì tôi có cảm giác bà đang ám chỉ cái gì đấy giữa tôi và B. Hoặc có lẽ chẳng có gì đặc biệt cả, vì tính bà ấy thẳng thắn và nồng nhiệt, bà ấy quý tôi nên muốn cho tôi biết rằng mẹ con bà đã lo lắng thế nào về sự an toàn của tôi mà thôi. Nghĩ đến việc hai mẹ con Jacqueline rất thân nhau khiến định kiến của tôi về B rơi rụng đi một ít. Anh ta trông có vẻ phong trần lãng tử, bất cần đời và chẳng biết sợ là gì, nhưng đàn ông biết yêu kính mẹ là đàn ông tốt và đáng tin cậy. Tự dưng tôi cứ nghĩ bâng quơ về B, đã bao lâu rồi kể từ lần chạm mặt đầu tiên hơi bất thường ấy nhỉ?



Phyllis là một phụ nữ to đậm, người cao và to béo nhưng không phục phịch mà da thịt bà có vẻ rất chắc. Tuy dáng người không có gì xuất sắc nhưng gương mặt bà rất đẹp, tôi cứ thầm nghĩ không biết hồi trẻ trông bà như thế nào, bà có từng thon thả hay không? Nếu thế thì bà chắc cũng phải từng là giai nhân tầm cỡ chứ chẳng chơi! Bà xuất hiện y như trong suy nghĩ của tôi, một phụ nữ nhiều son phấn, trang phục có phần cầu kỳ hơi khác người, và là loại người mà ta có thể ngửi được mùi nước hoa từ người họ khi họ còn ở khoảng cách khá xa. Tôi nhìn Jacqueline và Phyllis khi hai người ôm hôn xã giao mà thấy lo cho Jacqueline vì ngộ nhỡ Phyllis trượt chân và ngã lên người Jacqueline thì chắc chắn bà bạn nhỏ nhắn của tôi sẽ bị đè đến bẹp dúm. Rồi tôi lại cố xua đi suy nghĩ tinh quái không hay ấy của mình đi mà cố tập trung vào mục đích của cuộc gặp hôm nay. 

- Ôi, tôi không ngờ được gặp một người trẻ thế này và đã thích jazz. Thế cơ duyên nào đưa cô đến với jazz thế? 

Phyllis vui vẻ hỏi tôi trong khi hai bàn tay bà chắp vào nhau, mắt nhìn thẳng vào tôi, miệng cười tươi và người hơi rướn về phía trước, một ngôn ngữ cơ thể cho biết rằng người hỏi đang thật sự quan tâm và thích thú. Điều ấy khiến tôi phải cố suy nghĩ vì tôi không thật sự có câu trả lời chính thức. Ngoài ra, câu hỏi của bà khiến tôi có cảm giác rằng bà đánh giá trình độ âm nhạc của tôi hơi cao so với thực tế của tôi!

- Gọi là cơ duyên thì chẳng biết có đúng hay không, nhưng có một lần khi còn ở trung học, cháu tình cờ nghe một cô bạn kể về bộ phim cô ấy vừa xem và nói rằng nhân vật chính là một nghệ sĩ nhạc jazz. Có lẽ đó là lần đầu cháu nghe đến khái niệm ấy, và bắt đầu tò mò, thế là cháu ra tiệm bán băng đĩa, tìm mua đĩa nhạc jazz về nghe thử xem sao, và tự dưng cháu thích và cảm thấy gần gũi với nó vô cùng, chẳng biết phải giải thích thế nào. 
- Cô có tin vào tiền kiếp không?

Tôi hơi ngớ ra vì câu hỏi có vẻ “lạc quẻ” này, chẳng hiểu tại sao bà lại hỏi như thế. 

- Khi còn bé thì cháu thường nghe người lớn nói về tiền kiếp, về đầu thai, nên có lẽ cháu đã tin vào việc ấy từ trong tâm thức một đứa trẻ, nhưng khi lớn lên thì cháu hoang mang về việc ấy, vì …
- .. vì không có chứng cứ khoa học phải không? - Phyllis vui vẻ tiếp lời tôi. 

Tôi gật đầu tán thành ý ấy của bà. 

- Tôi hỏi cô câu ấy, vì tôi tin vào tiền kiếp. - Phyllis nói tiếp. - Việc cô yêu thích jazz vốn chỉ xuất phát từ tò mò và từ lần nghe đầu tiên khiến tôi liên tưởng đến việc ấy, rằng cô có “duyên” với jazz. Cô thấy đấy, jazz rất đặc biệt vì nó đòi hỏi một trình độ cảm thụ âm nhạc nhất định. Cô có nhớ những giấc mơ mà trong đó cô đang ở một nơi hoàn toàn xa lạ nhưng trong tâm thức trong mơ, cô lại thấy nó rất quen thuộc và cảm giác mình đã từng đến đấy không?

Câu hỏi của bà lại khiến tôi liên tưởng đến những giấc mơ hay lập đi lập lại của tôi, và đúng là tôi thường thấy những nơi như Phyllis vừa nói. 

- Ngoài ra, trong cuộc sống hàng ngày, đôi khi ta gặp một người lạ trên đường nhưng ta cứ có cảm giác đã quen biết người đó từ thuở nào. Cô có từng gặp ai như thế chưa?

Tôi nghĩ đến B, dường như tôi đã có cảm giác ấy khi gặp anh lần đầu. Còn David thì thế nào nhỉ? Không, tôi không hề có cảm giác ấy với David, mặc dù tôi gặp David nhiều hơn. Ngoài ra, trong thâm tâm, tôi cảm giác mình rất thoải mái khi nói chuyện với B mà không phải màu mè khách sáo gì, như thể tôi đã quen anh từ lâu. Với David thì tôi cứ luôn phải giữ kẽ, để ý lời ăn tiếng nói, từng điệu bộ cử chỉ của mình. Tôi bắt đầu chìm vào suy nghĩ mông lung …

Monday, March 27, 2017

Giáng Sinh xưa - The girl from Ipa-Nema (14)

Tôi thức giấc trong một mớ âm thanh ồn ào hỗn tạp ngoài hành lang và dưới tiền sảnh. Trời đất ơi, lại gì nữa đây? Tiếng gót giày nện cồm cộp trên nền gạch đá, tiếng bíp bíp của xe chuyên dụng bên dưới đường, tiếng ầm ầm của đồ đạc bị vứt từ trên cao xuống đất … thật khó mà ngủ nướng trong mớ âm thanh kinh khủng như thế này. Nhìn đồng hồ, đã gần chín giờ sáng! Vậy mà tôi có cảm giác mình chỉ vừa chợp mắt. Tôi ngái ngủ, cố gắng bước ra khỏi giường, rồi ghé mắt nhìn ra cửa sổ và được chứng kiến lần đầu tiên toàn cảnh khu nhà bị cháy đêm qua. Nhìn bề ngoài cũng không có gì ghê gớm, chỉ có những ô cửa sổ bị ám khói đen và dường như chỉ có tầng trên cùng là bị cháy, hai tầng còn lại có vẻ vô can, nhưng có lẽ cũng bị hư hại ít nhiều và hư hại chủ yếu vì nước hơn là vì lửa. Toàn bộ cư dân bên ấy đã phải sơ tán chờ hội đồng xây dựng và kiến trúc thành phố thẩm định độ an toàn xong thì mới có thể vào ở lại được, mà có lẽ sẽ còn lâu lắm, vì người ta phải xây lại tầng bị cháy và kiên cố hóa toàn bộ khu nhà cho an toàn. Sáng nay cư dân được phép trở vào nhà để thu dọn đồ đạc, và tiếng ầm ầm mà tôi nghe thấy là từ những món đồ nội thất bị cháy hoặc hư hại bị quẳng ra từ những ô cửa sổ thẳng xuống chiếc dumpster bằng sắt to đùng bên dưới. Rất may, không có thiệt hại về nhân mạng hay thương tích gì. 

Ngày đầu năm, các cửa hiệu hàng quán đều đóng cửa, tự dưng tôi thèm đến chết chiếc bánh quế nóng của Tina’s cafe cho buổi sáng hôm nay. Buồn chán chẳng biết đi đâu, tôi đành nướng một lát bánh mì rồi phết bơ và mứt lên ăn tạm, rồi hì hụi dọn dẹp nhà và thay ga giường mới. Cầm tấm khăn trải giường thơm thoảng hương chanh vừa giặt hôm trước, tôi điểm lại trong đầu những sự kiện vừa xảy ra trong vòng hai mươi bốn giờ qua. Mọi việc xảy ra nhanh quá, tôi cảm giác như mình vừa trải qua một cuộc phiêu lưu thật dài với đầy đủ hương vị mà tiếc thay, nó lại kết thúc bằng một sự kiện kinh hoàng như tối qua. Tôi nghĩ lan man đến những người sống ở tầng trên cùng bên khu bị cháy, cảm thấy tội cho họ vô cùng. Cư dân ở đây chủ yếu là sinh viên, sống xa gia đình như thế chẳng biết đêm qua chúng nó ngủ nhờ nơi đâu? 

Tôi quyết định đi xuống nhà bố Bear xem họ đã về chưa. Cửa vẫn đóng, nhưng xe của ông bà thì đã quay trở lại khiến tôi mừng rỡ. Nhưng họ lại đi đâu nữa rồi nhỉ? Khu sân trước chẳng mấy chốc đã được dọn sạch gần hết, đường lại được thông, sinh hoạt hàng ngày dần trở lại bình thường. Tôi bước ra đường, nhòm ngó bọn sinh viên đang bận rộn khuân vác đồ đạc ra vào tấp nập, rồi quyết định ngỏ lời giúp đỡ với một con bé đang tự dọn dẹp một mình mà dường như chẳng có ai giúp. 

- Xin lỗi! Tôi có thể giúp em một tay được không? Tôi sống ở khu đối diện bên kia - vừa nói tôi vừa chỉ tay về hướng căn hộ của mình. 
- Nếu thế thì hay quá, tôi đang rất cần người giúp đây ạ. Tôi cần tìm nơi cất tạm những bức họa này và dụng cụ vẽ … Nếu không quá phiền, nhờ bạn giữ tạm giúp cho đến khi tôi ổn định chỗ ở được không?
- Đâu có gì mà phiền! Thế em sống ở tầng mấy? 
- Tôi ở tầng hai. May mà hôm trước tôi dọn dẹp và cất chúng vào bao bọc nhựa cẩn thận nên chúng vẫn còn nguyên vẹn, nếu không thì … - giọng con bé gần như nấc nghẹn. 
- Thật mừng vì chúng vẫn được an toàn - tôi thầm thì. Em vẫn bình an, việc ấy còn quan trọng hơn phải không?
- Đúng rồi … 

Con bé là sinh viên năm hai của Đại học Mỹ thuật, tóc nhuộm đủ màu, mũi xỏ khoen, kẻ mắt đen đậm, mặc quần áo giống kiểu các vũ nữ flamenco và chân đi bốt. Trông nó có vẻ nổi loạn bất cần đời nhưng nói chuyện thì cực kỳ lịch sự lễ phép. Cái tên Vivien Lee của nó khiến tôi liên tưởng đến kiều nữ Vivien Leigh trong vai nàng Scarlett O’Hara bất hủ, và tôi thầm cười trong bụng khi nghĩ đến hai hình ảnh trái ngược nhau cho hai cô gái có cái tên gần trùng nhau như thế. Tôi hì hục vác đồ đạc của nó sang căn hộ của mình, và khi quay lại và leo cầu thang đến lần thứ ba thì tôi bắt đầu cởi bớt khăn choàng cổ cùng chiếc áo khoác mùa đông dày cộp ra mà thay bằng áo khoác mỏng hơn vì người đã bắt đầu nóng lên. Khiếp, dân mỹ thuật sao mà hành trang lỉnh kỉnh thế này không biết. Nào là giá vẽ, giấy cuộn, vải canvas cuộn, hộp màu và bột màu, cọ vẽ, chai lọ … Nghệ thuật sáng tạo đúng là vô giá, người họa sĩ đã bỏ biết bao công sức, tâm tư tình cảm, hoài bão, ước mong … vào trong tác phẩm của mình, mà có mấy ai thông hiểu và đồng cảm với họ? Và đời họa sĩ thường nghèo khó, đó là điều thật cay đắng cho một đời nhọc nhằn sáng tạo và làm đẹp cho đời. 

Thấy hai đứa con gái gầy liêu xiêu mang vác vất vả quá nên anh chàng thợ điện đang làm việc gần đó quyết định bước ra giúp một tay. Đêm trước có hỏa hoạn nên đường dây điện đã bị cúp, hôm nay thợ điện đến để đi dây trở lại cho các doanh nghiệp ở đấy. Còn khu bên tôi, may trời, hoàn toàn vô can và không mất điện. Con bé này chẳng biết căn hộ nó to cỡ nào mà đồ đạc của nó nhiều quá thể, may mà có anh chàng tốt bụng kia giúp đỡ, chẳng mấy chốc chúng tôi cũng đã khuân hết đồ đạc ra đường chờ người ta mang đi. Tôi mời Vivien vào nhà ngồi nghỉ ngơi, hai đứa trò chuyện một hồi và tôi cảm giác rất tâm đầu ý hợp với con bé. Gia đình nó sống không xa trường lắm, cách chừng bốn mươi lăm phút lái xe, nhưng nó quyết định ở đây để tiết kiệm chín mươi phút đi lại mỗi ngày, và cũng để được tự do hơn. Bây giờ nó lại dọn về nhà bố mẹ và đồng thời đi tìm nơi ở mới gần trường. Nhìn bề ngoài của Vivien, thật khó mà đoán nó là một người khá sâu sắc và chín chắn, tôi lại học được bài học chớ trông mặt mà bắt hình dong. Thật mừng vì tôi đã vượt qua được rào cản định kiến khi mới gặp con bé lần đầu mà đã ngỏ lời giúp nó. 

- Cái gì? Chị không phải sinh viên ở đây à? Chị lớn tuổi hơn em à?? 

Con bé tròn xoe mắt khi phát hiện sự thật “động trời” ấy! Làm người châu Á lang thang ở trời Tây cũng có cái thú vị vì chẳng ai đoán được tuổi thật của mình, và họ luôn đoán rằng ta trẻ hơn tuổi thật rất nhiều. Vivien còn bảo tôi trông như nữ sinh trung học, nó cứ nghĩ tôi trẻ hơn nó. 

- Chị làm cách nào mà trẻ lâu thế? Chắc chị tập thể dục và ăn uống lành mạnh phải không?

Tôi phì cười trước câu hỏi thật thà của nó. Chẳng lẽ phải nói toạc ra với nó rằng tôi chẳng có bí quyết gì, chỉ vô tình là người mang gene châu Á thôi?! Rồi tôi mời nó ăn trưa với tôi, vẫn là mì gói muôn năm cho những ngày mùa đông lạnh lẽo lê thê như thế này. Nó cầm đũa rất sành điệu, và trút đầy gói ớt vào tô mì của nó. Rồi con bé vừa ăn vừa xuýt xoa khen lấy khen để món mì của tôi, hỏi tôi “công thức” nấu mì. Tôi chỉ cho thêm vào mì vài con tôm nhí và rau củ thái mỏng, bí quyết chỉ có thế!

Ăn xong được vài phút thì bố mẹ và anh trai Vivien đến giúp con bé dọn đồ mang về nhà. Trước khi đi, con bé nhờ tôi mở giúp những lớp bọc của các bức họa ra cho thoáng khí, nhưng việc ấy không gấp lắm, khi nào tôi có thời gian cũng được. Rồi bố mẹ con bé cảm ơn rối rít khiến tôi phát ngại. Tôi nhìn Vivien tay trong tay với cả bố lẫn mẹ, liếng thoắng nói chuyện với ông bà, rồi ông bố ôm chầm lấy con bé và hôn lên tóc nó khiến mắt tôi cay cay. Chiều đã đến lúc nào không hay, tôi cứ đứng sau tấm rèm cửa sổ ngẩn ngơ nhìn gia đình Vivien khuân vác đồ đạc chất lên xe cho đến khi thùng đồ cuối cùng đã được mang đi. Cơn buồn ngủ và mệt mỏi bỗng ập đến khiến tôi không thể cưỡng lại chiếc giường êm ái và ấm áp đang mời gọi đằng kia. 

Ngày đầu năm của tôi kể ra cũng không quá tệ!

Friday, March 24, 2017

Giáng Sinh xưa - No more champagne … (13)


David không uống rượu, đó là điều tôi nhận biết về anh sau đêm ấy. Cầm ly champagne trong tay nhưng anh chỉ nhấp môi chứ không uống, và ở nhà hàng anh cũng không gọi rượu. Trên đường về nhà, tôi hỏi anh về điều đó, thì anh bảo rằng vì lái xe nên anh không được phép uống rượu, đêm giao thừa là đêm mà cảnh sát đi tuần tra rầm rộ ngoài đường vì đó là đêm người ta tiệc tùng bù khú nhiều nhất trong năm. Ngoài ra thì bình thường bản thân anh cũng gần như không uống rượu. 

- Công việc khiến tôi không được uống rượu, lâu ngày thành thói quen, tôi cũng chẳng thiết tha với rượu bia nữa. Thi thoảng đi bar với mấy cậu bạn thì tôi cũng chỉ uống một chai bia rồi thôi. 
- Việc gì mà gắt gao thế, nếu anh không phiền về câu hỏi của tôi?
- Tôi làm tư vấn cho một công ty sản xuất thiết bị an ninh - David hơi mỉm cười - khi say xỉn thì an ninh khó được bảo đảm, phải không? 
- Nhưng đó là trong phạm trù công việc. Còn trong đời tư, anh cũng phải có được tự do chứ nhỉ? - Tôi thắc mắc. 
- Đúng là như thế, nhưng công việc đôi khi cũng bất chợt khó đoán lắm. Và khi nghỉ phép thì chúng tôi vẫn không được tắt điện thoại liên lạc, vì khi cần thì họ vẫn có thể gọi chúng tôi bất cứ lúc nào. Đó là lý do tại sao chúng tôi được khuyến cáo không nên uống rượu bất cứ khi nào có thể. 
- “Họ” là ai mà quyền uy đến thế? Tôi tưởng ở phương Tây, quyền riêng tư được tôn trọng triệt để chứ!
- Nói hay đấy - David lại mỉm cười - nhưng ở đâu cũng có một vài ngoại lệ. Luật chơi là như thế, một khi đã chấp nhận thì mình phải thi hành triệt để!
- Thế anh có bao giờ cảm thấy gò bó vì “luật chơi” này không?

Một thoáng im lặng. 

- Có và không. Tôi thích sự kỷ cương ngăn nắp, đó là đức tính cần thiết và quan trọng. Là tôi nghĩ như thế thôi. Đôi khi, ta cũng nên thả lỏng một chút, nhỉ? 

David quay sang liếc nhìn tôi khi dừng đèn đỏ. 

- Thế, anh nghĩ sao khi thấy tôi cầm ly rượu trên tay? - Tôi hỏi thăm dò. 
- Không nghĩ gì cả! - Anh lại quay sang liếc nhanh tôi - Thật đấy. Hình như rượu vang cũng tốt cho sức khỏe nếu uống có chừng mực phải không. - Anh lại mỉm cười - Mà trông cô không có vẻ thuộc tuýp người bù khú tiệc tùng, nếu tôi đoán không lầm. 
- Không, anh lầm to rồi! Tôi hư lắm, say xỉn suốt đấy! - Tôi trêu anh. 
- Nếu thế thì đây sẽ là lần đầu tôi nhìn lầm người! - Anh cười, thật hiền. 

.

Về gần đến nhà cũng đã hơn một giờ sáng, nhưng sao con đường nhỏ ngày thường vốn vắng vẻ và yên tĩnh lại ồn ào náo nhiệt đến thế này. Rồi chúng tôi thấy vài chiếc xe cảnh sát bật đèn sáng đến nhức mắt ngay trước mặt, dường như đường bị chặn rồi. Quái, việc gì thế này? Hay là đêm giao thừa nên người ta xuống đường đông đúc?

David đậu xe ở con đường kế cận vốn còn thông xe, rồi mở cửa xe cho tôi. Chỉ còn cách một ngã tư nữa là tôi đã có thể về nhà, đường lại bị ngăn thế này nên chúng tôi quyết định đi bộ. Nét mặt của David có gì đó không được thoải mái, anh luôn đảo mắt nhìn chung quanh đầy cảnh giác, anh bước đi hơi nhanh hơn bình thường khiến tôi phải đi gần như chạy mới đuổi kịp anh. Tôi cũng cảm nhận không khí ngột ngạt trên đường, có cái gì đó không ổn đang diễn ra đâu đây. Đang đi thì tôi có cảm giác sau lưng mình có gì đó chạm vào, rồi nửa thân trên của tôi gần như bị nhấc bổng lên. Mọi việc xảy ra quá nhanh, nhưng David vừa cứu tôi khỏi ngã vào một vũng nước nhơm nhớp dưới chân mà tôi không thấy. 

- Không uống rượu quả thật là một điều rất tốt phải không? Anh phản xạ nhanh như vệ sĩ chuyên nghiệp vậy! - Tôi cố bông đùa khi vừa hoàn hồn. 
- Đoán như thần! Cô ổn chứ? - David hỏi khi nghe giọng nói hơi run run của tôi.

Một cảnh tượng khủng khiếp của khu nhà tôi ở dần hiện ra khiến tôi không thể tin vào mắt mình. Đường sá ướt nhẹp đầy bùn, rác rến khắp nơi và mùi cháy khét vẫn còn nồng nặc vương vẩn trong không khí. Sân trước thì lố nhố kẻ đứng người ngồi chật như nêm, nét mặt hoảng loạn, một số người còn đang mặc đồ ngủ và choàng chăn khắp người, chân vẫn còn đi dép lông trong nhà. Khu chung cư tôi ở được xây như chữ U, hai bên là hai tòa nhà chung cư còn dãy nhà nối ngang là những doanh nghiệp nhỏ như dịch vụ photocopy và in ấn, dịch vụ vi tính, một cửa hàng văn phòng phẩm, một hiệu thức ăn nhanh, và một hiệu sách mini. Trong tích tắc, tim tôi thót lại. Tôi nhìn David, lắp bắp, “Ồ không, bố Bear, và bà Rosalyn, họ …” David đảo mắt nhìn nhanh qua khu nhà của tôi và nét mặt anh giãn ra. 

- Họ an toàn rồi, em yên tâm. 

Anh chậm rãi chạm tay lên vai tôi, xiết nhẹ, mắt anh nhìn tôi thật dịu dàng. Lúc này đây, một cảm giác bình an lẻn nhẹ vào người và tôi biết mình không phải lo lắng về bất cứ việc gì trên đời nữa. May mắn thay, lửa chỉ bén bên khu bên kia, chưa kịp lan sang các cửa hàng mini này và do đó, khu nhà bên tôi cũng vẫn còn an toàn. Mọi người bắt đầu lục tục kéo nhau trở vào nhà bên khu tôi. Ở đường bên kia nơi David đậu xe bắt đầu loáng thoáng có vài chiếc taxi vừa trờ tới, có lẽ sẽ đưa những người bị mất nhà trong đêm nay đi đâu đó để ngủ tạm qua đêm. Chúng tôi đợi đến khi đám đông giãn bớt mới đi vào, và việc đầu tiên tôi có thể nghĩ đến là vội vã gõ cửa nhà bố Bear. Cửa đóng im ỉm, bên trong nhà tối đen. Tim tôi lại đập mạnh và nhìn David cầu cứu. 

- Họ có đậu xe ở một chỗ nhất định nào không? - Anh hỏi. 
- Hình như họ có một chỗ đậu được dành riêng cho họ trong nhà xe. 

Tôi mừng rỡ, nói như reo vì đã hiểu ý anh. Chúng tôi đi như chạy sang khu nhà xe và trước mắt tôi, chiếc xe màu ô liu quen thuộc của bố Bear không có ở đấy. Họ đã đi đâu chơi và có lẽ sẽ ngủ lại ở đấy tối nay, chúng tôi đặt giả thuyết như vậy và thầm cầu mong đó là sự thật.  

- Cám ơn anh nhé, David. Về mọi việc. 
- Không có chi. Lâu rồi tôi mới được vui như thế, tôi cũng phải cám ơn em nữa!

.

Đêm ấy tôi trăn trở liên tục mà không tài nào ngủ được, mặc dù tôi mệt bã người ra sau những biến cố trước đó. Nếu không có David bên cạnh trong đêm nay thì mọi việc sẽ ra sao nhỉ? Tôi sẽ phải thu dọn đồ đạc, chuẩn bị tẩu tán phòng khi đám cháy không được dập tắt kịp thời, nếu may mà tôi không đang say ngủ. Ông bà Bear cũng không có ở đây để hỗ trợ tinh thần cho tôi, và rồi tôi sẽ đi đâu tá túc trong đêm nay nếu căn hộ bị cháy? Thật là một ý nghĩ đáng sợ. Tôi điểm qua trong đầu những người tôi có thể nhờ cậy. Kim sẽ là người tôi gọi đầu tiên, có lẽ thế. Rồi ai nữa? Jacqueline thì đang ở Pháp chưa về, chỉ còn ông Reynolds. Nhưng ông ta là đàn ông góa vợ, sống độc thân, có lẽ tôi sẽ không thể sang đấy được. Jacqueline không có ở nhà, chắc chắn B sẽ sẵn lòng giúp tôi? Không, không được, sẽ rất bất tiện cho cả hai chúng tôi. Hoặc, nếu tôi đi chơi về và phát hiện căn hộ mình đã bị cháy thì sao? Có lẽ tôi phải tá túc ở nhà David thôi, và tôi cảm giác mình đang đỏ mặt trong đêm khi nghĩ đến điều ấy. Anh ta nghiêm túc, đạo mạo như thế, lúc nào cũng hành xử đúng mực với phụ nữ, à, ít ra là với tôi, thì tôi có thể yên tâm với sự giúp đỡ của anh. Rồi tôi bực bội với chính mình vì những ý nghĩ lung tung vô căn cứ ấy. Tôi đã an toàn, căn hộ của tôi vẫn an toàn, tôi đang nằm trên giường của mình, dưới lớp chăn ấm mềm mại, tôi vẫn may mắn có một số người sẽ sẵn lòng giúp tôi trong hoạn nạn, nếu như việc ấy có thể xảy ra. Rồi tôi điểm lại những sự việc đã xảy ra trong ngày, hầu như cả ngày nay tôi đã ở bên cạnh David! Anh có vẻ là người am hiểu nhiều lĩnh vực, nhưng rất khiêm tốn, ít bao giờ nói về mình. Đó là một điều khiến tôi cứ băn khoăn về David … có phải do đó là cá tính của anh, hay anh có lý do nào đó không muốn tiết lộ nhiều chi tiết cá nhân cho người khác biết? 

Tuesday, March 21, 2017

Giáng Sinh xưa - Happy New Year! (12)




Le Chat Noir quả thật không hổ danh là địa chỉ quen thuộc của người sành jazz, và là nơi mà một khi đã đặt chân đến thì ta sẽ quyến luyến chẳng muốn rời.  Tôi thì không sành jazz, nhưng chẳng hiểu sao jazz luôn gợi cho tôi cảm giác gần gũi thân quen rất khó diễn tả.  Ngày trước, mỗi khi có dịp ở nhà một mình, tôi thích tắt hết đèn, chỉ đốt một cây nến nhỏ leo lét và thưởng thức jazz trong không gian âm u cô quạnh.  Tôi hay mường tượng đến toàn cảnh phòng trà, nơi có cô ca sĩ da diết thả hồn theo bài hát, bên cạnh một nghệ sĩ dương cầm mắt lim dim và tay thì lướt phím, thi thoảng lại có âm thanh réo rắt của saxophone hòa quyện vào, tổng hợp thành một hợp âm trầm bổng du dương mê hoặc người nghe.  Đêm nay, được tận mắt chứng kiến những điều tôi từng mơ tưởng, ở một cafe jazz chính hiệu, có lúc tôi xúc động gần như thẫn thờ.  

Quán trông rất khác so với tấm ảnh bố Bear cho chúng tôi xem vào ban sáng.  Sau bao nhiêu lần đổi chủ, quán đã thay da đổi thịt gần như hoàn toàn.  Tôi hăm hở khi xem vài bức ảnh trắng đen treo trên tường về lịch sử của quán với hy vọng được thấy bố Bear hay bà Rosalyn để có chuyện về kể cho họ nghe, nhưng hoàn toàn thất vọng khi chẳng thu hoạch được gì.  Những tấm ảnh ấy không xưa như ảnh của bố Bear, có lẽ nó được chụp sau khi bố đã thôi không biểu diễn ở nơi ấy nữa.  Thế là tôi nảy ra một ý nghĩ.  Tôi tìm gặp quản lý quán, kể cho họ nghe về bố Bear và bà Rosalyn, ngỏ ý xem họ có muốn treo ảnh hai người không, và tôi thất vọng vô cùng khi ông ấy không biết hai người này, mà cũng có vẻ chẳng quan tâm lắm.  David nói rằng chúng tôi nên tìm gặp chủ nhân của quán, bà ta có thể sẽ có cái nhìn rất khác với người quản lý, nhưng chúng tôi nên đợi cho đến khi quán bớt đông khách thì việc nói chuyện sẽ thuận tiện hơn. 

.

Cả buổi chiều tôi loay hoay suy nghĩ đến việc chọn trang phục cho tối nay.  Vấn đề là tôi chỉ có mỗi một chiếc váy đẹp và đủ ấm « nhất y nhất quởn » dành cho tiệc đêm, mà tôi đã mặc hôm tiệc Giáng Sinh tuần trước rồi.  Tôi không thể mặc lại cái váy ấy cho tối nay, mà ngoài nó ra thì tôi không biết phải mặc gì khác để vừa đủ ấm vừa thích hợp cho buổi tối.  Mà tôi lại cũng chẳng muốn mình trông có vẻ cố gắng quá, chải chuốt quá, như thể tôi đang hò hẹn chính thức với David vậy.  Loay hoay thế nào thì tôi nghe tiếng gõ cửa, và bà Rosalyn xuất hiện với một cái váy nhung trên tay.  Đó là chiếc váy mà bà cất giữ bao nhiêu năm qua sau lần mặc đầu tiên vào « ngày cưới » của bà.  Thời đó ông bà không có điều kiện làm lễ cưới theo đúng nghi thức ở nhà thờ, nhưng họ đã có một buổi tiệc nhỏ, ấm cúng tại Le Chat Noir với sự chứng kiến của gia đình và bạn bè.  Bà trân quý nó trong suốt mấy chục năm qua, hy vọng một ngày nào đó sẽ được ngắm con gái mình trong chiếc váy đầy kỷ niệm ấy.  Trớ trêu thay, ông bà lại hiếm muộn, bao nhiêu nỗ lực, trông mong đợi chờ qua nhiều năm tháng đều trở thành hoài công vô ích.  Đã vài lần bà muốn mang nó cho từ thiện, cũng đã có người ngỏ ý muốn mua vì nó là hàng « vintage » chính hiệu mà chất lượng thì vẫn còn mới tinh như vừa mang ở hiệu may về, nhưng bà cứ lần lữa không nỡ xa lìa.  

- Nhưng đây là món kỷ vật vô giá của bà, cháu không thể nhận được! - Tôi thoái thác vì phát hoảng khi thấy chiếc váy ấy có vẻ lộng lẫy quá.  

Bà cười buồn.  « Kỷ vật có ý nghĩa gì nữa đâu nếu nó bị giam hãm thêm mươi mười năm nữa cho đến khi ta nhắm mắt xuôi tay?!  Nếu cháu không thích thì thôi, ta không ép, nhưng mà tự dưng sáng nay khi nhắc đến Le Chat Noir, ta lại nhớ đến chiếc váy và chợt nghĩ không biết cháu có thích nó không.  Ta nghĩ cháu mặc sẽ vừa và đẹp!  Thế tối nay cháu định mặc gì đấy? »

Khi tôi cho bà biết tôi sẽ mặc quần jeans và áo len cổ lọ, bà giãy nãy lên. 

- Không, không, cháu không nói đùa chứ!  Đó là nơi sang trọng, ờ thì ở thời của ta nó chưa sang như bây giờ, nhưng nếu ăn mặc như thế đến đấy thì cháu sẽ trở nên lạc lõng lắm đấy.  Khi ấy thì đừng trách là ta không báo trước cho cháu biết!  Với lại – bà mỉm cười – David có vẻ là người rất tinh tế, cậu ta sẽ mặc đẹp còn cháu thì casual như thế … ta thấy không ổn!

Khi tôi cố giải thích cho bà biết rằng chúng tôi không phải đang hẹn hò, và rằng một lời mời bâng quơ trong một lần tình cờ gặp gỡ như thế, theo tôi chưa có gì nghiêm trọng, và do đó tôi chẳng muốn ăn diện quá đáng cho đêm nay và có lẽ David cũng thế thì bà tiếp tục lên lớp tôi. 

- Đối tượng khách của Le Chat Noir là những người thanh lịch, cậu ta mời cháu đến đó tức là cậu ta cũng có gu thẩm mỹ cao.  Đó cũng là một nơi khá đặc biệt, người ta thường có kế hoạch đi đến đấy chứ không phải chỉ vô tình nghĩ đến việc ấy, nhất là vào dịp cuối năm như thế này.  Với lại thứ hai, đàn ông làm gì cũng có lý do, nhất là khi họ phải mất công mất của vì đàn bà, cháu không được ngây thơ khi nghĩ cậu ta chẳng có dụng ý gì khi mời cháu đi chơi tối nay nhé.  Dĩ nhiên, ta không nghĩ xấu cho cậu ta, ý ta là …nếu không thích cháu, không có tình ý gì với cháu thì cậu ta sẽ chẳng mất công với cháu.  Ý ta là thế. 
- Nhưng anh ta ở cùng hoàn cảnh như cháu, sống xa nhà, không bạn bè, nên mới … 
- Thế là cháu tin cậu ta liền à?! - bà vội vã cắt ngang lời tôi - Đừng hiểu lầm, ta rất thích cậu ấy, nhưng ý ta là … biết nói thế nào nhỉ … một khi đã nhận lời đi chơi với đàn ông tức là cháu đã bật đèn xanh cho cậu ta, và rồi cháu sẽ liên tục bị tấn công cho đến khi cháu gục ngã và một ngày đẹp trời nào đó, cháu sẽ thức giấc với chiếc nhẫn đính hôn trên tay mà vẫn chưa hoàn hồn!

Bà nói liền một hơi, còn tôi thì ngớ người ra vì nhận thấy bà không phải là không có lý.  Trời đất!  Nghe bà nói đến từ « đính hôn » mà tôi hoảng.  Thời đại này, nam nữ đi chơi với nhau một vài lần vẫn chưa đủ nói lên điều gì đặc biệt cả, nhưng bà là người của thế hệ khác … khác nhiều, đẹp hơn nhiều so với thế hệ của tôi bây giờ.  Biết rằng có giải thích với bà thì cũng hoài công vô ích, tôi quyết định chẳng nói gì thêm, chỉ cảm ơn bà đã thật lòng nhắn nhủ những lời tâm huyết với tôi.

- Thôi ta phải về, cháu cũng phải nghỉ ngơi một chút rồi chuẩn bị cho buổi tối nay phải không.  Ta để lại chiếc váy nhé, cháu cứ mặc thử, nếu cháu thích, nó là của cháu!

Tôi lí nhí cảm ơn bà rồi quay lại nhìn chiếc váy một hồi lâu, tâm trạng hơi xáo trộn vì những lời tôi vừa nghe.  Thực sự, tôi không rõ mình muốn gì nữa.  Chiếc váy nhung màu xanh thủy quân sẫm màu, cổ thuyền, tay dài, ôm sát thân trên, chân váy hơi mở ra khi chạy dài xuống gót chân, và nhấn eo bằng dải ruy băng màu kem bản rộng chừng bốn centimet, cột thắt bên hông và kéo dài đến tận chân váy.  Đơn giản nhưng cũng thanh lịch, quý phái vô cùng.  Suy nghĩ lan man một hồi thì tôi cũng hơi hoảng khi nghĩ đến việc nếu David sẽ ăn mặc giản dị trong khi tôi lại tướng vào người chiếc váy kiểu dạ hội này thì trông sẽ chẳng giống ai.  Mà tôi lại càng chẳng muốn có tình huống ngược lại!  

Tôi trang điểm thật nhạt, tóc búi cao và xoắn hai bên kiểu Pháp giống Jacqueline, và không đeo đồ trang sức.  Suy đi nghĩ lại, tôi vẫn nhất quyết đeo đuổi chí hướng « không cố gắng quá sức », mặc cho Rosalyn phản đối kịch liệt, nhất là màu son môi hồng nhạt tự nhiên của tôi vì theo bà, son nhạt chỉ đẹp trên làn da nâu sậm như bà chứ da trắng như tôi nên chọn màu sẫm và tươi hơn.  Cuối cùng, tôi đã chọn son màu san hô để làm bà vui lòng.  

David đến sớm gần mười lăm phút.  Và đúng như bà Rosalyn dự đoán, trông anh như vừa bước ra từ một tạp chí thời trang với tiêu điểm Ralph Lauren: quần Âu màu xám lông chuột với đường cắt rất vừa vặn và khéo, sơ mi trắng bên trong áo len màu xanh sẫm, và khoác ngoài cùng là chiếc áo khoác bằng dạ đen với khăn choàng cổ màu xám nhạt quàng sau gáy và thả dài xuống hai bên chứ không quấn cổ.  Và giày da đen chì.  Nếu anh mà đội mũ dạ đen nữa thì tôi đồ rằng tối nay thể nào cũng có người đến mời anh làm người mẫu cho hãng thời trang của họ hoặc sẽ mời anh gia nhập Hollywood cũng không chừng!

.

Chúng tôi là « cặp đôi » duy nhất không hôn nhau sau khi mọi người vừa xong màn đếm ngược cho đến thời khắc giao thừa và champagne đã nổ lốp bốp khắp nơi.  Cảnh tượng này tôi chỉ được xem trên phim ảnh, lúc này đứng ngay giữa lòng của nó, lòng tôi bồi hồi xao xuyến, trong tâm tư bất chợt vang lên bài hát Happy New Year quen thuộc và bất hủ của ABBA mà tôi từng thường nghe với chúng bạn.  Thời trung học, tôi có cậu bạn thân chơi trống cho ban văn nghệ của lớp, sau này lên đại học cũng chơi trống cho trường đại học.  Năm ấy tôi sang chơi khi ban nhạc của cậu ấy đang tập tành cho kỳ thi hát tiếng Anh trong trường, gặp phải hôm « ca sĩ » bận rộn không đến tập được, cậu ấy nhờ tôi hát giúp để ban nhạc tập với nhau.  Tôi nhận lời, cả bọn tập dượt rất vui vẻ, cuối cùng bọn chúng mưu mô đưa tôi làm ca sĩ chính cho kỳ thi chính thức luôn, và thật bất ngờ, tiết mục tốp ca Happy New Year năm ấy của bọn tôi đoạt giải nhất toàn trường.  May mà không ai phát hiện tôi hát «chui», vì tôi không phải là sinh viên trong trường!  Ngoài ra, chiến thắng ấy cũng chẳng có gì vẻ vang cho lắm, vì cả trường chỉ có lèo tèo vài tiết mục tốp ca, còn lại chủ yếu là đơn ca hoặc song ca mà thôi.  

David nâng ly champagne về phía tôi, mỉm cười với tôi rồi nói khẽ « Chúc mừng năm mới !», tôi cũng đáp lại « Chúc mừng năm mới!», cố xua đi sự khó xử và bối rối giữa hai chúng tôi trong thời khắc giao thừa vừa qua.  Rồi mọi người kéo nhau túa ra đường để xem pháo hoa, một số người chạy về hướng cầu cảng để xem cho rõ.  David hỏi tôi có thích ra ấy xem pháo hoa hay không, và tôi gật đầu ngay!  Anh luôn hào hoa phong nhã và đúng mực như trong suy nghĩ của tôi.  Chúng tôi đi ăn tối ở một nhà hàng Pháp gần đấy trước khi sang Le Chat Noir nghe nhạc.  Anh kéo ghế cho tôi ngồi và cả khi tôi đứng lên, giúp tôi mặc áo khoác trước khi bước ra ngoài.  Tôi chợt nhận ra, anh luôn hỏi ý tôi muốn gì cho tất cả mọi việc, thậm chí những việc linh tinh như nhiệt độ trong xe có thoải mái không, có quá nóng / quá lạnh không.  Anh tinh tế chọn chỗ ngồi khuất và xa cửa ra vào để tôi không bị lạnh khi có người mở cửa.  Đời tôi chưa bao giờ được đối xử như một bà hoàng như thế. 

Một cô gái tươi cười bước về phía chúng tôi, và David dường như nhận ra người quen, anh nhanh chóng giới thiệu tôi với cô gái ấy.  Tên cô ta là Linda, và họ là bạn của nhau từ thời thơ ấu.  Bố mẹ David và bố mẹ Linda là bạn thân và cũng là hàng xóm của nhau, nhưng khi David được tám tuổi thì gia đình Linda chuyển sang Cali và liên lạc giữa hai gia đình cũng thưa thớt dần.  Linda là một cô gái dễ thương, cô ta có vẻ khá thân thiện và cởi mở, nên tôi cũng cảm thấy thoải mái. 

- Để tôi chụp hình hai người nhé! 

Rồi Linda lôi trong túi xách ra chiếc máy ảnh Polaroid, nhìn chúng tôi và sẵn sàng bấm nút. 

- Cô cho phép chứ ? – David lại hỏi tôi, và tôi máy móc gật đầu.  « Dĩ nhiên rồi!»

Lại một thoáng khó xử giữa hai chúng tôi khi Linda yêu cầu chúng tôi đứng sát vào nhau hơn.

- Hai người trông căng thẳng quá, để tôi chụp lại! – Linda nói khi cô ta xem xét tấm ảnh vừa được in ra và tỏ vẻ không hài lòng. 
- Đây, tấm thứ hai này trông hay hơn nhiều! 

Quả thật hai tấm ảnh khác nhau một trời một vực.  Cả hai trông hơi gượng gạo trong tấm đầu tiên và trong tấm ảnh thứ hai thì chúng tôi trông như một cặp rất hạnh phúc.  Rồi Linda chào tạm biệt để không phá rối sự « riêng tư » của chúng tôi, cô kiễng chân lên hôn nhẹ vào một bên má của David khiến anh trông có vẻ hơi mất tự nhiên trong một vài giây.  Đó là lần đầu tiên tôi thấy anh lúng túng và hơi mất tự tin kể từ khi tôi biết anh.  Tôi quyết định giữ tấm ảnh gượng gạo và cho David giữ tấm đẹp hơn kia, khiến anh có vẻ hơi ngạc nhiên.  Bản thân tôi rất không ăn ảnh, nên tôi thà để anh giữ tấm ảnh đẹp hơn kia của tôi, nhưng dĩ nhiên tôi không cho anh biết sự thật đằng sau quyết định ấy!  

Thursday, March 2, 2017

Giáng Sinh xưa - Jazz it up! (11)


Tôi gặp lại David ở hiệu giặt gần trường.  Sau vài ngày nằm nhà đọc truyện và xem phim chán chê, hôm nay tôi đã đỡ hơn và quyết định mang áo gối và ga giường đi giặt để đón năm mới.  Thoáng thấy tôi, David bỏ dở quyển tạp chí đang đọc và vui mừng bước đến chào tôi, nhân tiện đỡ lấy giỏ đồ nặng nề tôi đang khệ nệ kéo vào.  Anh ta có vẻ hơi mệt, nhưng không giấu nổi sự hân hoan khi gặp tôi, đó là điều đầu tiên tôi cảm nhận khi vừa gặp lại anh.  Mặc dù hôm nay tôi đã tươi tỉnh hơn rất nhiều so với vài ngày trước nhưng vẫn còn húng hắng ho, mũi còn đỏ lựng vì hắt hơi sổ mũi tưng bừng những ngày vừa qua.  Anh có vẻ ái ngại và hỏi thăm tình hình sức khỏe của tôi.  Mùa cuối năm, trường đã vắng hoe vì bọn sinh viên đã về nhà nghỉ Giáng Sinh gần hết, chỉ còn lại đám sinh viên quốc tế tụm năm tụm ba tổ chức tiệc tùng với nhau và do đó, tôi không gặp phải cảnh chờ đợi như mọi khi vì hiệu giặt ngày thường lúc nào cũng đông nườm nượp.  

Gặp lại David, tôi cũng vui.  Những ngày qua tôi cảm thấy cô đơn vô cùng vì vừa bệnh lại vừa không có gia đình bè bạn bên cạnh, trời lại lạnh buốt và xám xịt, dễ làm người ta phát sinh trầm cảm.  David hơi hắng giọng và hỏi tôi:

- Hôm nay là ngày cuối năm, cô có chương trình gì để đón năm mới không?
- Có, đống đồ giặt này đây!  Tôi vừa mỉm cười vừa chỉ tay vào mớ đồ đang nhào lộn trong máy giặt.
- Thế thì tệ quá!, David cũng cười với câu nói bông đùa của tôi, rồi anh nói tiếp – Tôi vốn sinh trưởng ở vùng New England, sau này vì công việc nên chuyển xuống đây, và do đó tôi cũng chẳng có bạn bè gì ở đây cả.  

David bỗng đột ngột im lặng, rồi anh nói tiếp.

- Thế, em không đi chơi với Kim à?
- Không, năm nay cô ấy bận rộn vì hôn phu rồi!
- Có một quán cà phê nhạc jazz rất hay, tối nay họ có chương trình đặc biệt mừng năm mới, không biết em có muốn đến đó chơi không?

Nghe nói đến nhạc jazz là tôi đã thấy thích.  Kể ra, ngày cuối năm mà đi chơi một mình hoặc nằm nhà xem pháo hoa trên TV một mình thì cũng tệ thật.  David lại đàng hoàng, mặc dù tôi chỉ gặp anh ta hai lần nhưng ít nhiều tôi cũng có thể nhận xét được anh ta là người tốt và tôi có thể tin tưởng, yên tâm đi chơi cùng.  

Tôi chợt nhớ đến ông bảo vệ già ở tầng trệt, lúc nào cũng tươi cười vui vẻ và tôi và vợ chồng ông đã trở thành bạn của nhau tự lúc nào.  Hai vợ chồng ông sống ở tầng hầm tòa nhà tôi ở và vợ ông nấu ăn cho canteen của trường.  Thi thoảng tôi có dịp đi nhờ xe của ông bà từ trường về nhà trong những ngày mưa bão, và nhân tiện, bà sẽ san sẻ một ít thức ăn không bán hết trong ngày cho tôi.  Những lúc như thế này, tôi lại nhớ đến những ngày thơ ấu, thời má còn bán chè để kiếm cơm cho gia đình.  Những ngày mưa, ế ẩm, chị em tôi lại được ăn chè thỏa thích vào buổi tối, và tôi rất khoái những đêm như thế, đâu biết rằng người lớn phải rầu rĩ tính toán xem có đủ tiền đi chợ mua hàng cho ngày hôm sau hay không!  Ông bà quý tôi lắm, gần như xem tôi như con gái.  Biết tôi sống một mình, xa nhà, ông bà thường hay thủ thỉ dạy tôi những điều quan trọng để phòng thân, và một trong những “quy tắc vàng” mà tôi phải hứa với ông bà sẽ tuân thủ tuyệt đối, là nếu có đi chơi riêng với bạn trai, thì phải gọi cho một người quen nào đó và cho người ấy biết tôi đi với ai và đi đâu - một quy tắc bất di bất dịch mà bất cứ người cha nào cũng áp dụng cho con gái của mình.  Ông kể cho tôi nghe vài câu chuyện rùng rợn về việc có những cô gái bị bức hại khi đi chơi với đàn ông xa lạ, thậm chí là người quen, cho nên các cô gái lúc nào cũng phải luôn đề cao cảnh giác, đừng quá ham chơi mà thiệt thân, có khi thiệt mạng.  Tôi hơi rùng mình khi chợt nhớ lại những câu chuyện ấy, mặc dù biết rằng người già thường hay lo xa, và đôi khi cũng phóng đại tình hình.  

- Em có ổn không đấy?

Tôi giật mình, rơi trở về hiện tại ở hiệu giặt và anh bạn mới quen đang chờ tôi hồi đáp cho lời mời đi chơi tối nay.  Không biết tôi đã trôi miên man trong suy nghĩ mất bao lâu, và nét mặt của tôi trông ra làm sao mà David lại hỏi tôi như thế.  Tôi bối rối, chẳng biết phải trả lời thế nào.  Anh ta dịu dàng nhìn tôi và mỉm cười.

- Xin lỗi vì tôi hơi đường đột với lời mời ấy.  Em không quen biết tôi, có lẽ em cũng e ngại … như thế cũng dễ hiểu.  Không sao đâu, nếu em không cảm thấy thoải mái thì tôi phải chờ thêm một thời gian vậy!

Tôi vẫn câm như hến, chẳng biết phải nói gì.  Tôi thèm được đi chơi.  Lâu lắm rồi, tôi nhớ không khí ấm cúng của cafe, của nhạc sống.  Nhưng tôi cũng muốn tuân thủ “quy tắc vàng” mà ông bạn già của tôi đã bắt tôi hứa phải giữ.

- Thật ra, không phải tôi … không tin anh.  Nhưng có điều, biết nói thế nào nhỉ …

Tôi không muốn kể cho David nghe về lời dặn dò của ông “Bear” (tên gọi thân mật của “bố già” của tôi), nhưng tôi cảm thấy mình phải có một lời giải thích cho thỏa đáng.  Cuối cùng, tôi quyết định nói thật, một đức tính hay của người Mỹ mà tôi từ từ vừa học được. 

- Tôi trân trọng điều đó.  Em là một cô gái ngoan, và thông minh, em đã hành xử hoàn toàn hợp lý trong tình huống như thế này.  Thật ra, em hoàn toàn có quyền không tin tưởng tôi cho đến khi em biết tôi nhiều hơn …

David nhìn tôi thật lâu, trìu mến, ấm áp.  Đôi mắt lá răm của anh dịu lại trong khi lòng tôi thì cuộn trào, xốn xang …

.

“Hai đứa định đi đâu chơi tối nay đấy?”

Giọng nói khàn khàn quen thuộc của bố Bear âm vang hết cả không gian khi chúng tôi vừa bước vào tiền sảnh.  David và tôi đã có một cuộc trò chuyện thú vị ở hiệu giặt và may trời, anh không hề đề cập gì đến chuyện đi chơi tối nay trong khi tôi vẫn chưa hoàn toàn chính thức chấp nhận lời mời của anh.  Đây là một nét tính cách rất đàn ông của David mà tôi rất thích.  Thời còn đi học, bao nhiêu gã trai trẻ đã bị tôi cắt đuôi chỉ vì cái tính nói nhiều và nói dai.  Anh chàng này thì cực kỳ lịch sự nhã nhặn nhưng cũng rất dứt khoát, nói đâu phải ra đó, và câu chữ luôn rõ ràng minh bạch khiến người khác luôn có cảm giác phải tuân phục.  Một dạng “alpha male”.  Anh ngỏ ý muốn xách hộ tôi đống đồ vừa giặt xong về nhà, tôi không nhớ anh đã nói như thế nào, nhưng tôi cảm giác mình không thể từ chối.  Mà thật sự, tôi cũng chẳng muốn từ chối.

Câu hỏi đột ngột của bố Bear khiến cả tôi và David hơi ngẩn ra mất vài giây.  Ông già Bear này quả là tinh tướng, nhưng cũng đáng yêu vô cùng.  Tôi biết ông cố tình hỏi như thế để “quy tắc vàng” kia được thực thi hiệu quả.  David nhìn tôi, chờ đợi.

- Bố Bear à, tối nay chúng con sẽ đi nghe nhạc ở “Le Chat Noir”.  Đây là David.

David bước đến chào hỏi và bắt tay bố Bear.  Ông già cười to, nét mặt đôn hậu, hiền hòa.  Ông nháy mắt với David.

- Cậu phải hứa với tôi sẽ chăm sóc cô con gái cưng của tôi cho thật tốt nhé - Rồi ông như giật mình tỉnh giấc - Mà con nói cái gì? Le Chat Noir? Ôi, ngày xưa ta và bà xã đã từng chơi nhạc ở nơi ấy đấy.  Cũng là nơi ta gặp nàng lần đầu và bị tiếng sét ái tình đánh trúng và kết quả là bây giờ hai ta vẫn còn yêu nhau như điếu đổ!

Rồi ông lại cười to, lớp nọng cằm rung bần bật và cả người ông như cũng rung lắc mạnh theo tần số tiếng cười ấy.  Tôi yêu bố Bear vì nhiều lẽ, nhưng tôi yêu nhất là những lúc như thế này.  Trông ông như một con gấu vĩ đại, nhưng là một con gấu hiền lành đáng kính nhất trên đời.  Rồi ông bước đến ôm choàng ngang vai và hôn đánh chụt lên má tôi.  David vẫn im lặng quan sát chúng tôi, hơi gật đầu với bố Bear và mỉm cười với tôi.

- Cô cậu rảnh chứ?  Vào đây vào đây, tôi sẽ cho cô cậu xem cái này. 

.

“Cái này” mà ông muốn khoe là cây đàn saxophone sáng bóng và một cuốn album ảnh đồ sộ đã cũ sờn và đóng bụi.  Ông mân mê cây đàn và nhẹ nhàng lật từng tờ album ảnh như thể chúng làm bằng pha lê, chỉ cần một chút sơ sót là sẽ vỡ vụn.  Vừa lật ảnh cho chúng tôi xem, ông vừa kể chuyện đời ông bà cùng tiểu sử quán cà phê Le Chat Noir danh tiếng này.

Ngày xưa, vào đầu những năm 1950s, có một người da đen gốc New Orleans đến lập nghiệp ở vùng này.  Ông ấy là thợ sơn, và cũng là một nhạc sĩ tài ba nhưng không gặp thời.  Ông thuê một căn nhà nhỏ, cũ kỹ, với căn gác xép làm nơi ở và tầng trệt được dùng làm nơi họp mặt với hội nghệ sĩ trong thành phố.  Tối đến, họ sẽ gặp gỡ, thảo luận về các vấn đề chính trị xã hội, và quan trọng hơn hết, chơi nhạc cùng nhau.  Ông Charles gặp khó khăn về tài chính và có khả năng phải dọn đi nơi khác vì không thể tiếp tục đóng tiền nhà, thế là hội nghệ sĩ bắt đầu quyên góp tài chính để giúp ông Charles.  Nhưng như thế vẫn chưa đủ, vì ông cần có nguồn thu nhập chứ không thể sống nhờ vào tài trợ mãi như thế này.  Thế là ý tưởng thành lập quán cà phê jazz hình thành.  Các nghệ sĩ đến đấy biểu diễn không công, và thu nhập của quán dùng để trang trải tiền nhà và các chi phí của quán.  New Orleans vốn là thủ phủ của nhạc jazz, và cũng là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa châu Âu khác nhau, trong đó có khu Pháp, là nơi Charles đã sinh trưởng.  Có lẽ ông đặt tên Pháp cho quán cà phê của mình là do lòng hoài cổ và tưởng nhớ vùng đất mà ông đã nặng tình ấp ủ yêu thương từ trong máu thịt.

Bố Bear ngừng kể, nét mặt ông dâng tràn sự xúc động cao trào. 

“Đây, ngày xưa quán trông như thế này đây”, vừa nói, ông vừa trỏ ngón tay to bè vào một tấm ảnh.  “Hồi đó chúng tôi đã gặp vô vàn khó khăn, nhưng đó là những tháng ngày đẹp nhất, hoành tráng nhất đời của chúng tôi.”  Giọng ông hơi run run, tôi cũng xúc động khi nhìn những tấm ảnh đen trắng chuyên chở cả một lịch sử oai hùng thời trai trẻ của những nhạc sĩ da đen thời ấy.  Tôi bắt gặp một tấm ảnh rất quen thuộc chụp một nghệ sĩ đang say sưa biểu diễn với cây saxophone.

“Có phải là bố đấy không?”  Vừa dứt lời, tôi đã biết mình hỏi thừa.  Ông thật đẹp trai trong bộ veston và chân thì đi giày bóng lộn.  Tôi say sưa ngắm nghía bức ảnh, trí óc tôi phiêu bạt về thập niên 50s, thời mà người ta luôn ăn mặc chỉnh tề mỗi khi ra đường, luôn ngả nón chào nhau và nói những lời lịch sự nhã nhặn với nhau.  Hai người đàn ông kia dường như cũng có cùng tâm trạng như tôi, tất cả cùng chìm trong im lặng suy tư, hoài cổ.

Tôi phá vỡ sự im lặng ngột ngạt bằng một câu nói đùa.  “Có vẻ như ngày ấy bố mang ít gánh nặng trên người hơn bây giờ thì phải?!”, thế là ông già cười phá lên, người lại rung bần bật theo từng tràng cười.  Tôi âu yếm nhìn ông, cảm giác yêu thương tràn ngập.  Ông là người đơn giản, thật thà, quý trọng phẩm cách đạo đức của con người hơn là tiền bạc và địa vị của người đó.  Tôi chưa bao giờ gặp ai với một thái độ sống nhẹ nhàng thanh thản và luôn lạc quan như ông.  Đời ông đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố, nhưng tôi đồ rằng ông chẳng bao giờ than van mà luôn mạnh mẽ chấp nhận sự thật và biết nhận trách nhiệm về mình.

“Còn đây là nàng Juliet xinh đẹp của tôi”, ông tự hào cho chúng tôi xem một tấm ảnh khác.  Một phụ nữ nhỏ nhắn, xinh xắn, đang đứng trên bục sân khấu với cây microphone trước mặt.  “Nàng có giọng hát thánh thót như chim hoàng yến, và dáng đi thanh thoát như thể chân nàng chẳng bao giờ chạm đất!  Nữ hoàng foxtrot một thời đấy!”  Đôi mắt bố Bear mơ màng, phiêu du về một quá khứ huy hoàng xa xăm.  Khi mới mở quán, hội nhạc sĩ chỉ chơi hòa tấu, và khi quán bắt đầu đông khách, họ nhận thấy nhu cầu cấp bách phải có ca sĩ và thế là một ngày đẹp trời nọ, bà Rosalyn xuất hiện với tư cách một người đi xin việc.

“Vừa thấy nàng, tôi cảm giác nghẹt thở và tim đập loạn xạ.  Lạ lắm, ngay giây phút ấy, tôi hiểu tôi đã thuộc về nàng!”, ông Bear hào hứng kể tiếp, tôi nhận thấy ông ném nhanh cho David một cái nhìn đầy hàm ý nào đấy tôi không rõ.  “Đời tôi chưa bao giờ gặp một sinh linh đẹp đẽ thánh thiện hơn thế!  Nhưng nàng thì chẳng đoái hoài gì đến tôi …”

“Anh lại tra tấn người khác về câu chuyện tình sến sẩm của mình phải không?”, một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên sau lưng chúng tôi.  Bà Rosalyn vừa cười vừa bước vào phòng khách, trên tay là một khay trà nóng và bánh ngọt, cũng vừa lúc bụng tôi đang kêu ộp oạp và sôi lục bục vì đói.  May mà tiếng cười giòn giã của bố Bear đã lấn át những âm thanh không hay ấy.  Tôi nhìn hai vợ chồng già, tình tứ ôm hôn nhau rồi ông dịu dàng đỡ bà ngồi xuống, và, tự dưng tôi muốn khóc.  Vì sao, tôi cũng không rõ.  Sự đói khát thương yêu là một năng lượng tàn phá ghê gớm có thể âm ỉ nhỏ giọt gặm nhấm người ta suốt cả cuộc đời.  Đôi khi, nó tấn công người ta nhanh gọn, dữ dội như những trận động đất hay sóng thần, rồi nhanh chóng rút đi, để lại một thân thể rách bươm với một tinh thần nhàu nát.  Có lẽ tôi đang liên tưởng mình giống tuýp nạn nhân trong vế thứ nhất thì phải.  

Bà Rosalyn dịu dàng vuốt tóc tôi, đẩy tách trà và chiếc đĩa bên trên có vài chiếc bánh ngọt cho tôi.  “Ăn đi, con gái.  Hôm nay trông cô đỡ nhiều rồi đó.”  Tôi nuốt vội ngụm trà, như đang cố gắng nuốt trôi những kỷ niệm buồn đang mắc nghẹn nơi vòm họng.  Và cả một sự biết ơn cao độ tôi dành cho hai vợ chồng già phúc hậu này.  David vẫn im lặng, như thường lệ, và quan sát vở tuồng yêu thương của ba chúng tôi với một thái độ thú vị.

Chúng tôi trò chuyện thêm một hồi, chủ yếu về Le Chat Noir, rồi cáo từ hai vợ chồng già tốt bụng.  Tiễn chúng tôi ra đến tận đầu cầu thang, bố Bear vỗ vai David, dặn dò thêm gì đấy, rồi David gật đầu và họ bắt tay.

Sáu giờ tối nay, David sẽ đến đón tôi đi chơi.  Anh sẽ chờ tôi ở tiền sảnh sau khi đã ý tứ không đưa tôi đến tận cửa căn hộ mà chỉ mang giúp tôi đống quần áo vừa giặt xong lên hai tầng lầu mà thôi.  Tôi thầm cảm ơn điều ấy.  Tôi không muốn phát sinh quá nhiều sự thân mật chưa cần thiết giữa chúng tôi vào lúc này. 

Wednesday, January 4, 2017

Giáng Sinh xưa - Sick as a dog! (10)

Sau vụ ấy thì tôi bị cảm thật.  Và bàn chân thì như bị bỏng rộp vì đôi giày cao khô cứng cộng với tiết trời lạnh lẽo.  Khỉ thật.  Sống xa nhà, một thân một mình như thế này mà lại bệnh, cảm giác thật cô đơn và tủi thân.  Tôi thèm được ăn bát cháo nóng do má nấu, hoặc được ăn canh “ba màu”, là loại canh đặc biệt mà ngày xưa chị em tôi thường chỉ được ăn mỗi khi bị bệnh.  Đó là canh được nấu bằng nước hầm sườn với cà rốt, khoai tây, và củ su hào, thi thoảng có thêm củ dền đỏ, và dĩ nhiên, bắt buộc phải có rất nhiều tiêu và hành lá thái nhuyễn.  Đang bệnh mà ăn canh ấy vào, mười phần cũng giảm ba.

Phải khó khăn lắm tôi mới lết nổi xuống tầng trệt tòa nhà nơi có điện thoại công cộng để gọi cáo bệnh.  Có lẽ giọng tôi trên điện thoại nghe thảm hại lắm nên Kim có vẻ hốt hoảng, rối rít bảo tôi cứ yên tâm nghỉ ngơi và nhớ phải gọi cho cô ấy ngay nếu cần được giúp đỡ, và nếu tình hình không ổn thì phải gọi cấp cứu.  Người tôi sốt nhẹ, ho khan trong ngày đầu tiên, rồi sang đến ngày thứ hai thì ho vật vã rũ rượi, và sau đó thì ho khàn khạc như tiếng mèo bị mắc xương rồi cong người cố tìm cách nôn xương ra cho bằng được.  

Kim rất nhiệt tình, chưa hết giờ làm việc đã ghé sang và mang cho tôi tô mì Nhật, một gói trà gừng, và hộp thuốc cảm.  Hôm nay lẽ ra là ngày bắt đầu kỳ nghỉ Giáng Sinh nhưng chúng tôi nghỉ lùi lại một ngày và nghỉ thêm một ngày sau ngày đầu năm.  Lâu rồi tôi không nhìn kỹ Kim, dạo này trông cô ta gầy đi thấy rõ, dáng vẻ mệt mỏi, tính tình ít vui vẻ hoạt bát như hồi đó.  Tôi muốn hỏi thăm nhưng không biết phải bắt đầu bằng cách nào.  Cô ấy vừa đính hôn, tôi chưa gặp hôn phu của cô ấy nhưng nghe đồn phong phanh rằng anh ta không được lòng những người xung quanh cho lắm.  Tôi hơi buồn khi thấy Kim thay đổi theo chiều hướng đi xuống như thế, mà chúng tôi cũng chưa đủ thân thiết để hỏi nhau những vấn đề riêng tư.  Hôm nay tôi lại đang không khỏe, mà chờ đến dịp được gặp cô ta trong không khí thân mật như thế này thì chẳng biết đến khi nào.

-         Này, hôm nay có người gọi điện tìm cậu đấy! 

Kim mỉm cười ra chiều bí hiểm, còn tôi ngọ nguậy trong chăn, tim đập mạnh.
-         Gọi không gặp cậu, nghe tin cậu không khỏe, người ấy hỏi xin số điện thoại và cả địa chỉ của cậu nữa.  Nhưng mình làm sao dám cho, mình nói rằng thứ nhất là cậu không có số điện thoại liên lạc, thứ hai là mình phải hỏi ý kiến cậu trước. 
Tôi ngồi nhổm dậy, tim đập nhanh hơn, lòng rộn ràng với những dự đoán lung tung lẫn lộn. 

-         Mình có hỏi xin số điện thoại của người ấy cho cậu, nhưng người ấy bảo không cần, cũng chẳng để lại tên tuổi.  Cậu suy nghĩ gì đấy?  Thôi ăn mì đi kẻo nguội.

Rồi Kim đẩy tô mì đến trước mặt tôi, thái độ dịu dàng khiến tôi cảm động.  Tôi im lặng ăn mì, cảm giác không được thoải mái cho lắm.  Kim hỏi tôi có muốn nghỉ ngơi không thì cô ta sẽ về sớm, nhưng tôi mời Kim ở lại.  Rồi Kim kể cho tôi nghe rằng trước tôi cũng đã có một người, nhưng hai đứa không hợp cạ, và cô nàng kia nghỉ việc khi làm chưa đến hai tuần.  Còn tôi trụ lại được đã hơn ba tháng, có nghĩa tôi và Kim đã tìm được tiếng nói chung.  Đang kể chuyện ngon trớn thì cô ta có vẻ loay hoay tìm cách kể cho tôi nghe thêm một việc khó nói nào nữa.

-         Cậu thấy giáo sư R dạo này thế nào?  Ông ấy thay đổi rất nhiều, đúng không?
-         Mình không rõ lắm, ý cậu là thế nào?
-         Ông ấy dễ chịu hơn, ít đóng cửa phòng hơn, còn cả tự mở rèm cửa sổ cho ánh nắng tràn vào, ha ha.  Mình nghĩ ông ấy thích cậu.

Tôi trợn mắt nhìn Kim, cô ta lại cười.

-         Mình nói ông ấy thích cậu, thế thôi, ông ấy là người đáng kính, cậu yên tâm.  Mình cảm giác ông ấy thay đổi là nhờ có cậu, và do đó mình cũng được hưởng lợi, nên cậu phải cố mau hết bệnh để thứ nhất là đón năm mới cho hoành tráng, thứ nhì là sớm trở lại làm việc với mình nhé!
-         Kim này … mình có vài điều băn khoăn.  Tại sao hồi mình vào phỏng vấn, cậu chẳng hỏi gì liên quan đến công việc, và ông ấy cũng chẳng buồn góp phần vào?  Dù mình không làm việc trực tiếp với ông ấy nhưng vẫn thuộc phạm vi trách nhiệm của ông ấy chứ.
-         Cái đó thì … Kim mân mê và xoay vòng vòng chiếc nhẫn đính hôn lấp lánh – biết nói thế nào nhỉ, chiều hôm trước đó, ông ấy đang đi ngang qua bàn mình, bỗng quay phắt lại, mân mê tập hồ sơ xin việc trên bàn mình, nhìn hồi lâu vào hồ sơ của cậu, rồi bảo mình gọi cậu đến vào hôm sau.
-         Và?
-         Và gì nữa, một khi ông ấy có chỉ thị như thế, không cần nói gì thêm, mình hiểu là ông ấy muốn nhận cậu.
-         Nhưng, tại sao?
-         Làm sao mình biết! – Kim nhún vai.
-         Cậu không tò mò à? Dù sao mình sẽ là người làm việc với cậu, mà cậu không thử hỏi ông ấy à?
-         Cậu biết tính ông ấy quá còn gì!  Nhưng việc đó đâu còn quan trọng nữa, mình rất vui có cậu vào làm, thế là đủ rồi. 

Tôi ngừng ăn, không thể không nghĩ đến những gì Kim vừa tiết lộ.

-         Năm mới sắp đến rồi, cậu có chương trình gì không ?
-         Mình chẳng biết, mấy ngày nay không khỏe, mình chẳng còn tâm trí cho việc vui chơi nữa.  Mà mình chẳng có bạn ở đây, chẳng biết đi đâu và làm gì, có lẽ sẽ mang đồ đi giặt rồi nằm nhà xem TV!
-         Tội nghiệp cậu quá.  Nếu còn độc thân, thể nào mình cũng đi chơi với cậu – Kim hơi thở dài khi nói điều ấy với tôi.


Rồi Kim đứng lên, nói rằng đã đến lúc cô ấy phải về, còn bảo rằng cô ta áy náy vì nghĩ rằng tôi bệnh là do cô ta lây cho.  Cả tuần trước Kim cũng ốm vật vờ và tôi đã gánh luôn phần việc của cô ấy.  Đi làm về muộn, trời lại lạnh, và tôi còn thường tranh thủ tập đàn thật lâu sau giờ làm việc nên thi thoảng bị trễ xe bus, đôi khi phải đi bộ hoặc đứng chờ bus lâu hơn thường lệ, dần dà chắc là đã nhiễm lạnh khi nào không biết, cho nên hôm nay tôi ngã gục cũng phải.  Tôi pha tách trà gừng Kim vừa mang cho, rồi chui trở lại vào chăn, suy nghĩ về người đã gọi tìm tôi sáng nay và về câu chuyện bí ẩn chung quanh việc tôi được nhận vào làm.  Đầu tôi nhức ong ong, càng nghĩ càng chóng mặt hoa mắt mà chẳng có manh mối nào …

Happy Valentine's day!

Tình hình là Valentine năm nay mình đành lỗi hẹn với vụ ra sách GSX, là bởi vì nhà xuất bản làm việc theo kế hoạch từ đầu năm nên muốn nhét ...