Về đến nhà,
trời đã nhá nhem tối. Tôi ở căn hộ mãi ở
tầng trên cùng, tầng ba, nên phải leo cầu thang hai vòng mới đến nơi. Hôm nay lại phải quảy cái túi sách nặng cỡ mấy
chục cân trong khi bụng đang đánh trống và sôi sùng sục, tôi thở hổn hển, thả
phịch túi sách xuống sàn trong khi tay thò vào giỏ tìm chìa khóa. Cả buổi chiều ngồi trên bus, kẹt xe hơn ba
mươi phút, trong khi nếu đi bộ thì sẽ không quá mười lăm phút, đầu óc tôi không
thể nghĩ gì khác hơn ngoài cuộc đối thoại kỳ quặc với giáo sư Reynolds trước
đó. Rồi hình ảnh Jacqueline tay trong
tay với một người trai trẻ ở công viên W. cũng khiến tôi hơi xáo trộn. Kim thì dạo này cứ cách vài ngày là nghỉ ốm. Rốt cuộc, chuyện gì đang xảy ra với những người
chung quanh tôi thế này?
Vì trời đã bắt
đầu trở lạnh nên tôi không thể ngồi ở bậu cửa sổ như mọi khi mà phải đóng cửa sổ
lại và bật sưởi. Thời tiết ở đây thật bất
thường, một ngày có đủ bốn mùa, thật lạ.
Buổi sáng là mùa xuân, trời mát; đến trưa là hè, hơi nóng; chiều chạng vạng
là mùa thu, se lạnh; và đêm đến sẽ là mùa đông, lạnh cóng. Hôm nay quả là một ngày đặc biệt, hai sự kiện
lớn vừa xảy ra khiến tôi không thể tập trung đọc truyện như mọi ngày được nữa. Mệt mỏi, tôi ăn vội tô mì gói vừa nấu, đi tắm,
pha cốc trà thảo mộc rồi leo lên giường, nhìn đống sách vừa mang về mà ngán ngẩm,
trong đầu cứ âm vang những lời giáo sư R vừa nói khi nãy. “Tôi không phải cố gắng
gây ấn tượng với bất cứ ai”. Nhưng ông
ta ở cái vị trí khác, vị trí của ông ta cao chất ngất, nên ông ta mới ngạo nghễ
nói được câu đó. Còn tôi, ở hiện tại, liệu
có đủ dũng cảm phát biểu như thế không?
Mà kỳ thực, tôi chẳng hề có ý định gây ấn tượng cá nhân gì với ai cả. Đơn giản là tôi chỉ muốn mình hiểu những gì
người ta đang nói, và để tham gia những cuộc trò chuyện như thế buộc tôi phải
biết cái gì đó. Nhưng rốt cuộc, phía sau
những cuộc trò chuyện này là gì? Có lợi
lộc gì cho ai? Một đám trí thức gặp nhau
tán gẫu, đấu láo, xong tan hàng thì ai cũng có cuộc sống riêng tư phải lo
toan. Tôi giật mình. Thời gian này đúng là tôi cực kỳ xao lãng
trong công việc, mà đây mới là điều có thật và có một tầm quan trọng nào đó
trong cuộc sống của tôi. Giả sử, tôi lơ
ngơ mù tịt không biết gì về lịch sử hội họa thời Phục Hưng Châu Âu, họa sĩ nào cấp tiến hay bảo thủ, ai đã sưu tập đa số các tác
phẩm của họ, v.v. thì giá trị của tôi có vì thế mà sút giảm đi không? Hoặc sự kiện Hemingway đã sống một thời gian ở
Paris, đã làm gì, đã quen với danh họa Picasso tại đấy hay những người nổi tiếng
nào khác, nếu tôi rành rọt mọi việc đến chân tơ kẽ tóc hoặc vui vẻ không biết
gì cả, thì trái đất có vì thế mà ngừng quay không?
Càng nghĩ, tôi càng thấy mọi việc trở nên
sáng tỏ. Tôi rất thích Jacqueline và hội
bạn của bà, nhưng có lẽ tôi không thuộc về thế giới ấy. Bản chất sinh hoạt của họ, thực ra một phần cũng
là do bệnh nghề nghiệp. Đa số họ làm
công tác giảng dạy, khảo cứu, biểu diễn, thế nên họ thích trao đổi, tranh luận,
đó là lẽ đương nhiên vì đó thuộc chuyên môn của họ. Có thể họ cũng chẳng có nhu cầu phải chứng tỏ
bản thân như tôi đã nghĩ. Chỉ đơn giản,
họ thích làm những việc đó, như một thú tiêu khiển, thế thôi. Và nếu họ thích tranh luận, họ cứ làm điều
mình thích. Tôi không thích tranh luận,
thì tôi không phải tham gia. Ai cũng có
quyền sống theo bản chất và sở thích của mình, đây lại là xứ sở của tự do, như
người Mỹ vẫn thường luôn tự hào về đất nước của mình, cớ sao tôi lại tự đặt
gông cùm vào người rồi mệt mỏi vì nó?
Tôi kéo túi
sách lên giường, tò mò mở ra xem mình đã lôi cái quái quỷ gì về nhà, bụng bảo dạ
giờ đây ta đã có tự do, cứ xem mình thích cái gì thì tìm hiểu về cái ấy, quan
trọng là phải vui với điều mình làm. Chợt
nhớ đến một câu nói thường hay được lặp đi lặp lại trong các phim Hồng Kong tôi
từng xem năm xưa: “miễn cưỡng không có hạnh phúc”, tôi bật cười thành tiếng. Đúng rồi, miễn cưỡng thì không có hạnh
phúc! Đời đơn giản đến thế thôi ư?!
Đêm nay
trăng sáng vằng vặc, bầu trời đêm trong vắt không một gợn mây. Tôi vui vẻ vớ lấy cuốn nhạc lý, ôn lại các ký
hiệu nhạc, rồi với tay bật radio để nghe những bản giao hưởng đặc biệt về
đêm. Hôm nay không có nhạc, mà lại có
opera. “Le mariage de Figaro”, một vở
opera kinh điển do thiên tài âm nhạc Mozart biên soạn. Phần overture thật dài, thật hoành tráng, tôi
nghe mà sởn gai ốc, cảm giác lâng lâng như đang trôi nổi trong biển nhạc phản
chiếu ánh trăng bạc ngoài kia. Lũ chim vốn
thường tụ tập làm tổ và ríu rít suốt ngày trên cây sồi bên ngoài cửa sổ kia giờ
đã bỏ đi đâu hết. Gió cũng như ngừng thổi,
xe cộ thưa thớt rồi vắng hẳn. Không gian
lúc này thật tịch mịch, tĩnh lặng gần như tuyệt đối, thế giới hiện tại hoàn
toàn trống vắng, chỉ còn có tôi và Mozart và những đợt sóng nhạc hòa quyện cùng
ánh trăng huyền ảo ngoài kia, cuộn trào miên man từng đợt, đổ xô, mời gọi, rộn
rã. Nhạc của Mozart là thế, luôn làm cho
người nghe phải rạo rực, bứt rứt không yên, mạnh mẽ nhưng lại du dương, trầm bổng,
cảm giác cứ như đang phiêu lãng đâu đó trên những tầng mây tít tắp. Rồi ký ức những ngày thơ lại ùa về, với những
buổi trưa vắng buồn chán chỉ có chiếc radio cũ kỹ làm bạn cùng những concerto cổ
điển, hoặc thi thoảng những vở opera mà nghe chẳng hiểu gì ráo! Bây giờ tôi nghe vẫn chẳng hiểu gì, nhưng sự
cảm thụ âm nhạc lại ở một cấp độ hoàn toàn mới … Mắt tôi díu lại, không gì cưỡng
lại được cơn buồn ngủ đang ập tới. Tôi
thiếp đi giữa những cao trào của vở diễn, trong mơ lại thấy mình đang ở nhà
hát, mặc trang phục của người châu Âu thời Mozart, nhưng tôi lại không tài nào
thấy được mặt của hai người bạn đi cùng lúc ấy.
Mãi rất lâu về sau này, khi xem phim “Amadeus”, tôi bàng hoàng thấy cảnh
tượng trong nhà hát khi đang diễn vở này sao rất giống giấc mơ đêm ấy, sống động
đến từng chi tiết nhỏ. Phải chăng đó là
tiền kiếp của tôi? Một dạng déjà vu thật khó diễn giải?
Wednesday, November 16, 2016
Saturday, November 5, 2016
Giáng sinh xưa - The tough choice and the mysterious man (6)
-
Hai
tuần sau tôi có hội thảo ở Boston, Kim bận việc nhà nên không đi được, cô có
thích đi cùng không?
Tôi vừa nghe
qua đã mừng rú lên, nhưng một chút mặc cảm vẫn len lỏi vào đầu. Đây không phải là thành tích cá nhân, mà là
ân huệ tôi được ban phát, như thứ đồ ăn thừa thay vì vứt đi uổng phí thì người
ta lại chiếu cố đến tôi. Đúng là cảm giác
tự ti pha lẫn kiêu hãnh cố hữu của người nghèo, tôi thoáng nghĩ và cảm thấy
mình thật vô duyên. Đang phân vân chưa kịp
trả lời là “có, tôi thích đến chết đi được”, thì tôi chợt nhớ ra Jacqueline
cũng có một buổi hòa nhạc vào cùng thời điểm ấy. Nếu không quen J, có lẽ tôi đã tức tốc sắp xếp
hành lý ngay vào đêm nay và đếm từng ngày cho đến lúc tôi đáp máy bay đi
Boston, nhưng dạo này âm nhạc đã chiếm lĩnh trọn hồn tôi và tất cả mọi thứ còn
lại bỗng trở nên thứ yếu, bao gồm cả mơ ước được làm việc như Kim ngày nào. Nhưng cơ hội được đi chơi miễn phí (tôi đã
ngây thơ nghĩ như thế) này cũng có sức nặng vô cùng lớn, đang giằng xé sự so đo
cân nhắc của tôi, và tôi vẫn đứng trơ ra không thể có câu trả lời chính thức.
Như đọc được
ý nghĩ ấy của tôi, giáo sư R tiếp lời. “Tôi biết là Jacqueline cũng có một buổi
hòa nhạc với thành phố trong hai tuần tới, và tôi biết cô rất muốn tham dự. Sống là phải chọn lựa đúng không? Tough choice!” Rồi ông mỉm cười, vụ ấy làm tôi
choáng sắp ngất!
“Nhưng cô phải
nhìn vào mặt tích cực của vấn đề. Khi cuộc
sống đưa ta đến chỗ phải lựa chọn, nếu cả hai lựa chọn đều tốt, chẳng phải đó
là điều may mắn hay sao? Tính tham là
căn nguyên của nỗi khổ con người, chắc cô cũng rõ giáo lý Đông phương này! Cô không cần phải trả lời ngay bây giờ, cứ suy
nghĩ trong đêm nay rồi sáng mai hãy cho tôi câu trả lời chính thức.”
Tôi vẫn cảm
giác như hồn xiêu phách lạc, không biết ông giáo sư lạnh lùng này có bị ma nhập
hay không. Thứ nhất là ông ta mỉm cười rất
thật, rất tình cảm, thứ hai là chỉ trong vòng vài phút, ông ta đã nói một hơi
thật dài, bằng tổng cộng những gì ông sẽ nói với tôi trong gần một tháng. Và toàn là những lời thân mật sâu sắc, như
cách một người cha đang khuyên nhủ cô con gái của mình. Hay của người đi trước, từng trải, với một người
trẻ con nông nổi.
-
Cám
ơn giáo sư, ông thật tốt với tôi.
Đó là toàn bộ
những lời tôi có thể thốt ra vào lúc ấy. Có gì đó khó tả đang diễn ra trong lòng, tôi
cũng chẳng biết gọi tên nó là gì. Cảm động? Sốc?
Biết ơn? Tôi muốn nói nhiều hơn,
để bày tỏ cảm xúc của mình, để cho ông ấy biết tôi biết ơn vì ông đã nói những
lời quan tâm đầy chân thành ấy. Nhưng cơ
hội đã vụt qua, ông vừa ngồi xuống bên bàn làm việc, và tôi biết trong tích tắc
ông đã ở trong một thế giới khác. Tôi hiểu
ông nhiều đến thế ư?!
Hít một hơi
thật dài, tôi lẳng lặng đi ra, cảm thấy không cần chào tạm biệt. Lúc đang lúi húi dọn dẹp bàn làm việc và tắt
máy tính, tôi cảm nhận có ai đang ở sau lưng mình. Ông ta đã lặng lẽ đứng đó tự bao giờ, tôi
cũng chẳng rõ, vì lưng tôi quay lại với cửa phòng ông. Tôi giật mình, nhìn trân trối vào gương mặt
khắc khổ quen thuộc ấy, sao hôm nay có gì đó hơi khác lạ. Đôi mắt ấy như long lanh hơn, sáng hơn, các nếp
nhăn như cũng giãn nở ra hơn, tôi cảm nhận được một sự ấm áp len lỏi giữa hai
chúng tôi lúc ấy. Ông hắng giọng, vẻ bối
rối, đầu các ngón tay chập vào nhau, giống như khi ông đang thuyết trình và gặp
phải một câu hỏi khó từ phía thính giả.
-
Tôi
có nghe nói là cô đang học đàn với Jacqueline?
-
Dạ phải.
-
Mọi việc thế nào ?
-
Cũng ổn.
…
-
Cô có thể tập đàn ở bên khoa thanh nhạc
sau giờ hành chính, nếu muốn. Tôi đã nói
chuyện với bên ấy và họ bảo không thành vấn đề.
-
Ôi, cám ơn ông, vô cùng! (tôi suýt hét
lên vì vui sướng !)
…
-
Và này ..
-
??
-
Có lẽ cô cũng nhận thấy tôi không phải
là một người dễ mến …
-
Ồ không đâu … - Tôi cố gắng chống chế một
cách yếu ớt, vì tôi nói không thật lòng!
-
Nhưng sự thật là như thế! Tuy nhiên cũng có một số người rất quý tôi, vì
họ hiểu tôi. Tôi không phải là kẻ dẻo miệng
biết cách làm hài lòng người khác, và tôi cũng không muốn làm thế nếu có năng
khiếu ấy … Điều tôi muốn nói ở đây là, tôi chẳng hề cố gắng gây ấn tượng với bất
cứ ai. Một khi người ta thấy được thực
tướng dù không hoàn hảo của mình và vẫn quý mến mình, đó là khi ta bắt đầu tìm
thấy tri kỷ.
-
??
Rồi, chẳng chút che đậy, ông liếc nhìn chồng sách dày cộp
mà tôi đã cố ý để dưới gầm bàn và mỉm cười, nét mặt thật đôn hậu. Tôi xấu hổ, né tránh cái nhìn của ông. Thì ra dạo này ông đã không bỏ sót bất cứ
hành tung bí ẩn nào của tôi, và tôi thì vẫn vô tư xem ông như «ông già khó tính»
vốn chẳng bao giờ thèm để ý đến chuyện gì khác ngoài những gì nằm trên bàn làm
việc và trong cặp của mình. Và ông cũng đã
âm thầm quan tâm đến tôi? Chợt nhớ lại
những điều Jacqueline đã kể cho tôi dạo nào, có lẽ đúng là ông ấy đánh giá tôi ở
một bậc khác cao hơn mà tôi không biết. Đúng
là tôi cũng đã cố gắng tạo tình cảm thân thiện và để ý xem ông có ưu ái tôi hơn
hồi mới vào hay không, nhưng tuyệt nhiên không hề có một chút dấu hiệu nào chứng
tỏ ông có mảy may nào quan tâm đến tôi. Nhưng
tại sao ông có thể khéo che đậy cảm xúc của mình đến thế? Cảm xúc?
Tại sao phải che đậy? Hay là ông
ta có … gì với tôi?
Nghĩ đến đó, tôi đỏ mặt và nổi gai ốc. Kim đã về sớm vì không khỏe, và trong văn
phòng chỉ còn lại hai người. Quả thực,
đây là lần đầu tiên ông nói nhiều với tôi đến thế, và toàn là những điều thân mật
cá nhân vượt ngoài phạm vi giới hạn của quan hệ công việc. Tôi có đi ăn trưa với ông vài lần, nhưng là
đi với vài người khác nữa, và tôi chẳng bao giờ ngồi gần ông, trò chuyện gì với
ông cả. Tính tôi vốn nhát còn ông thì
luôn lạnh như băng, thế nên trong vô thức tôi thường hay lảng tránh ông. Bất giác, tôi bước thụt lùi lại hai bước, mặc
dù khi ấy giữa ông và tôi vẫn là một khoảng cách khá an toàn. Dường như ông cảm nhận được sự bất an của tôi.
-
Thôi cô về nhà đi, cũng đã muộn rồi.
Rồi ông thoăn thoắt bước về phòng riêng, đóng cửa lại. Tôi có cảm giác ông đang chạy trốn, nhưng nó
vẫn rất hợp với tính cách của ông mà tôi đã quen thuộc. Kim đã từng bảo tôi rằng ông ta thuộc tuýp
người «socially awkward», tức là những người hơi bất thường trong xã giao, mà không
nhất thiết là xấu. Chỉ là hơi bất thường. Thế là thế nào ? Hôm nay ông giảng đạo cho tôi một tràng, lại
tâm sự chuyện riêng tư, trong khi ngày thường ông như một pháo đài lạnh cóng chẳng
ai có thể thâm nhập được? Chẳng ai,
ngoài Jacqueline? Mắt ông luôn sáng rực
mỗi khi gặp bà, tinh thần ông phơi phới như cậu trai mới lớn khi trò chuyện
cùng bà! Mà cũng phải thôi, có người đàn
ông nào mà không gặp phải vấn đề này khi gặp Jacqueline kiều diễm kiêu sa ấy? Tôi cứ tò mò vì « tình bạn » giữa
hai người này. Bất chợt, tôi có ý nghĩ
tinh quái muốn điều tra vụ này cho đến nơi đến chốn, như một bí mật nho nhỏ của
riêng tôi. Rốt cuộc, có lẽ giáo sư R
cũng chẳng có tình ý gì với tôi đâu. Nghĩ
đi nghĩ lại, tôi thấy ông là người tốt.
Có lẽ chỉ đơn giản là ông có quý mến tôi. Hoặc giả, ông thương hại cho cái đứa lơ mơ
lóng ngóng như tôi cũng không chừng! Chứ
quý mến vì cái gì thì tôi cũng không thể rõ được, bởi tôi chẳng phải cá nhân xuất
sắc mà lại thường lặng lẽ như cái bóng trong văn phòng, đặc biệt từ dạo học đàn
với Jacqueline thì tôi cứ ngày ngày nôn nóng cho hết giờ làm việc để được tập
đàn hoặc về nhà ngồi vắt vẻo trên bậu cửa sổ hoặc có khi hứng chí, leo cửa sổ
ra nóc nhà mà đọc truyện.
Tôi rón rén cho chồng sách dầy vào cái túi ba gang vừa tậu
được ở chợ trời vào tuần trước, rồi lẳng lặng bước ra trạm xe bus. Những lúc tâm tư ngổn ngang xáo động, tôi rất
thích được bách bộ, nhưng hôm nay tôi đang quảy một gánh sách nặng nề, không thể
không đi bus được. Gánh nặng! Thật là một so sánh ẩn dụ thú vị. Tôi quả đang bị gánh nặng của chồng sách này
khiến tôi không thể làm việc mình thích, là đi bộ qua công viên. Chính là gánh nặng của nhu cầu tăng cường kiến
thức mà tôi cứ luôn trong tâm trạng bất an, lo sợ người ta đánh giá mình là ngu
si lạc hậu. Nhưng rốt cuộc, trong cái
đám người vốn luôn rất bận rộn lo nghĩ về những điều cao xa để thể hiện mình
trong đám đông, có mấy ai quan tâm đến việc tôi là ai và tôi thông minh hay ngu
dốt?
Giờ tan tầm, giao thông dầy đặc, xe bus cũng vì thế chạy chầm
chậm ngang công viên W., tôi ngơ ngẩn nhìn những cành cây bắt đầu trụi lá, và
thảm lá vàng ngày nào bây giờ đã chuyển sang nâu, khô khan, già úa. Mùa đông đang đến gần. Bên kia công viên là khu nhà của Jacqueline,
hôm nay vì lá cây đã rơi rụng gần hết nên tôi có thể nhìn tổng thể khu nhà ấy từ
xe bus trên cao. Vài nhà đã sáng đèn, mặc
dù trời chỉ vừa chập choạng chưa tối hẳn.
Tôi thoáng thấy hai người, một nam một nữ, đang bách bộ trong công viên. Chính là Jacqueline! Bà ấy mặc váy len đen dài chấm đất, tóc vẫn
luôn búi cao thanh nhã như thường lệ, người đàn ông đi cùng thì mặc quân phục
sĩ quan, và rất cao. Họ đang rất ung
dung nhàn hạ, trò chuyện vui vẻ. Chốc chốc
Jacqueline lại âu yếm vòng tay vào cánh tay anh chàng kia, hoặc anh kia cũng
thi thoảng ôm vai Jacqualine rất thoải mái.
So ra thì tuổi tác của họ khá chênh lệch, sự thân mật hơi bất thường ấy của
họ khiến tôi cứ phân vân …
Wednesday, November 2, 2016
Giáng Sinh xưa - The miserable wannabe (5)
Đón tôi tại cổng là một gương mặt không mấy thiện cảm, cô
nàng mang hàm răng hô với chiếc cằm độn nhiều lớp che mất chiếc cổ to bè đặt
trên thân hình đẫy đà chắc nịch như một bao tải gạo vừa bị thả phịch xuống đất. Tôi luống cuống, không biết phải làm gì thì
cô ả lại càng chằm chằm nhìn tôi có vẻ hằn học khó chịu hơn. Về sau, tôi được biết cô tên là Daisy, con
chó bulldog to bè lúc này vẫn gầm gừ quan sát tôi từ bên kia chiếc cổng sắt. Vừa may, Jacqueline kịp đi ra giải cứu tôi,
trên tay bà vẫn còn đeo găng làm vườn và chân mang đôi ủng đi mưa đầy họa tiết
sặc sỡ.
-
Xin lỗi cô nhé, tôi thường giữ Daisy trong cũi mỗi
khi có khách lạ đến nhà nhưng hôm nay mải mê làm vườn nên tôi quên mất việc ấy. Suỵt, Daisy, im nào! Cô ả chỉ giả bộ thị uy với người mới đến nhà lần
đầu thôi, nhưng nếu cô cho ả liếm tay và chơi với ả thì cô sẽ trở thành thượng
khách trong những lần sau đấy!
Tôi buồn cười nhìn gương mặt của Daisy, nó làm tôi nhớ đến
con chó bulldog trong phim hoạt họa Tom & Jerry, dáng cũng gồ ghề to bè và
gương mặt thì như vừa bị Mike Tyson đấm cho một phát chí mạng khiến nó bẹp dúm
và răng môi lẫn lộn như thế. Nghĩ đến vụ
“răng môi lẫn lộn” thì tôi không nhịn được cười, không thể tìm từ nào tả đúng
hơn sắc đẹp của Daisy!
Buổi học dương cầm đầu tiên của tôi diễn ra êm ả. Jacqualine là người thực tế, bà dắt tôi đến
ngay chiếc baby grand đặt chễm chệ ngay giữa tiền sảnh, gọi tên những chi tiết
của chiếc đàn để tôi làm quen với các khái niệm căn bản, dạy tôi tư thế ngồi với
lưng thẳng và hai bàn chân đặt phẳng trong khi hai chân tạo thành góc vuông trên
nền nhà, vai thả lỏng, v.v. Tôi lắng
nghe không sót một chi tiết, lòng hồi hộp bồn chồn, chỉ mong được sớm chạm tay
vào những phím đàn tinh tế ấy.
-
Cô là người đầu tiên đến đây học đàn mà không cần
chỉnh ghế ngồi cho vừa tầm đấy. Học trò
của tôi nếu là trẻ con thì tôi phải nâng ghế lên, và nếu là người lớn thì tôi lại
hạ thấp xuống.
Tôi đang suy nghĩ xem ý bà đang nói gì, thì chợt hiểu
ra. Tôi và Jacqueline có chiều cao tương
đương nhau, và bà thích thú với điều ấy vì bà là người nhỏ nhắn, ít khi nào gặp
được ai cũng bé như mình. Vậy là mình vừa
ghi điểm với cô giáo, hi hi … tôi tự nhủ, lòng vui vui.
Tối hôm ấy, việc đầu tiên tôi làm khi vừa về đến nhà là cắt
trụi móng tay đi. Mặc dù Jacqueline tế
nhị không đề cập đến việc ấy nhưng khi bà nhắc đi nhắc lại là phải cúp bàn tay
lại khi đàn và chạm phím đàn bằng đầu móng, thì tôi hiểu lời bà nói. Thảo nào tôi thấy móng tay bà rất ngắn, và
không sơn sửa gì cả. Sau giờ học, bà mời
tôi đi một vòng tham quan khu vườn hoa tuyệt đẹp do chính tay bà chăm sóc, rồi
ngồi ăn bánh uống trà ngoài đấy và cuối cùng bà cắt tặng tôi một bó hoa đủ thể
loại để mang về. Hôm ấy trời se lạnh
nhưng vẫn còn nắng, cảnh vật êm đềm, tôi lại được ăn bánh uống trà trong khung
cảnh kỳ hoa dị thảo sau khi vừa được học đàn dương cầm lần đầu tiên trong đời,
tôi như người lên chín tầng mây, về đến trước cửa nhà vẫn còn ngẩn ngơ như vừa
trải qua một giấc mộng đẹp. Đóa hoa
Jacqueline vừa tặng quá đẹp, nhưng tôi chẳng có cái bình hoa nào cả, thế là tôi
vơ lấy viên phấn, viết vội “bình hoa” lên tấm bảng đen trong bếp cho danh sách
đi chợ cho ngày hôm sau.
.
Càng qua lại nhiều với Jacqueline, tôi càng cảm thấy nghẹt
thở vì bà am hiểu nhiều thứ quá, mà bà lại rất thích trò chuyện mới chết đứa lơ
ngơ như tôi. Chưa kể, thi thoảng bà còn hay
mời tôi đi ăn trưa ăn tối, tiệc tùng linh tinh với hội bạn cầm kỳ thi họa vốn
cũng rất ưa thích tranh luận, triết lý, đậm chất Pháp, như bà! Khổ thân tôi, vừa mới chân ướt chân ráo ra khỏi
mái trường XHCN, thầy cô nói gì mình gật nấy, giờ phải tham gia với hội này,
tôi cảm giác mình như đang rơi tự do cái toẹt xuống một môi trường nơi người ta
cực thích tranh luận và bảo vệ quan điểm của mình đến mức sống chết như nơi
đây. Thế là, trong những chuyến đi ra
thư viện lấy sách cho sếp, tôi lại nhét túi thêm sách cho riêng mình. Ban đầu chỉ là sách về nhạc lý, vài cuốn tiểu
thuyết kinh điển, cho đến lịch sử âm nhạc, sau nâng cấp lên một chút sang hội họa,
tiểu sử của mấy ông già nổi tiếng trong lĩnh vực này. Bà thủ thư bắt đầu để ý đến tôi, khi thấy tôi
cứ mượn hàng đống sách dày, và chỉ trong một tuần là đã mang sách đi trả. Kỳ thực, tôi làm sao đọc cho hết đám sách khô
khan ấy! Tôi chỉ đọc tiểu thuyết thôi, để
mơ mộng, chìm đắm, và giữa những lần cao trào của cảm xúc, tôi lại lôi mấy quyển
sách chết tiệt kia ra mà ghi chép lại tên sách và tên tác giả, vài chi tiết
trong phần giới thiệu sách, rồi quẳng chúng sang một bên và tiếp tục phiêu du
vào thế giới huyền ảo của những tiểu thư, công tử quý tộc châu Âu cách đây vài
thế kỷ. Tôi đang học để đối phó, và tôi
cực ghét chuyện này, nó khiến tôi muốn nôn mửa.
Ngặt nỗi, Jacqueline lại thường tỏ ra ngạc nhiên thích thú khi thấy tôi
biết cái này cái kia, và tôi thì thường chỉ góp vài câu khi bắt buộc phải thế,
chứ đa phần thời gian, tôi nhường cho những người thích nói kia được làm cái việc
họ thích. Tôi lắng nghe, cũng là một
cách để học hỏi.
Và tôi bắt đầu chán cái nếp sống giả tạo này, nhưng không biết
phải thoát ra khỏi nó bằng cách nào, cho đến một hôm …
Monday, July 11, 2016
Giáng Sinh xưa - The French pianist (4)
Trời đã bắt đầu vào thu, lá cây đổi màu vàng cam đỏ trên nền thảm cỏ vẫn còn xanh muợt, tuyệt đẹp như tranh vẽ. Hết giờ làm việc, tôi thường mua một cốc nước táo hầm quế nóng và một cái bánh ngọt ưa thích, rồi ra công viên W ngồi nhâm nhi và ngắm người qua lại, và dĩ nhiên, giương máy ảnh chụp khắp nơi. Đời tôi chưa bao giờ được tận mắt ngắm nhìn cảnh vật hữu tình như thế này. Cuối tuần, tôi cũng ra công viên ăn sáng và đọc sách cho đến khi nào đói thì bách bộ ra cái quán nhỏ gần đấy. Tina's cafe là nơi ưa thích của tôi. Quán nhỏ, décor toàn trắng đen và xám, trên bức tường dài giữa quán treo một bức tranh đầy màu sắc, to cỡ 1mx1.2m vẽ hình một nghệ sĩ da đen ôm cây saxophone và nền bức tranh là những ngọn đèn neon đủ màu sắc của đường phố New York. Và dĩ nhiên, quán chơi toàn nhạc jazz, một thể loại nhạc ưa thích của tôi. Những đêm cuối tuần thì có ban nhạc sống nhưng vé rất đắt và phải đặt chỗ trước, và dù tôi rất muốn đến nghe nhạc ở đấy, tôi phải dè dặt tính toán xem mình có đủ tiền không, và nhất là vì tôi chẳng có bạn đi cùng. Và tôi chưa bao giờ đặt chân đến đấy vào đêm cuối tuần.
Công việc vẫn chẳng có gì mới mẻ, nhưng tôi đã tự dặn lòng rằng ai cũng phải bắt đầu từ nấc thang đầu tiên. Thật kỳ lạ, đúng là "đời thay đổi khi chúng ta thay đổi", tôi nhận thấy mình vui vẻ hơn, ăn mặc đẹp hơn, và trang điểm trở lại. Thậm chí, Kim đã hỏi đùa không biết có phải vì tôi đang yêu hay không! Tôi sắm một đôi giày thấp và mềm mại, vì lúc này tôi phải di chuyển rất nhiều. Tôi tăng cân, nhưng quần áo thì hơi rộng ra, có lẽ phần cân nặng ấy là do tăng cường cơ bắp do đi lại cả ngày. Thật tréo ngoe, Kim ước gì cô ta có thể di chuyển cả ngày như tôi, vì Kim là người rất năng động, trong khi tôi, vốn là người rất ngại va chạm và tiếp xúc, lại đảm nhiệm phần đi lại như con thoi. Thế nên, Kim đề nghị tôi "nhường" một ít việc giao liên và bù lại, tôi sẽ trực điện thoại trong khi cô ta đi vắng. Tôi phát hoảng với đề nghị ấy, mặc dù trong thâm tâm, tôi luôn ao ước được làm việc của Kim. Tôi cực ghét việc nói chuyện với người lạ qua điện thoại, ngại nói chuyện trước đám đông, vì tôi vốn là người hướng nội!
Nhưng, tôi đã can đảm chấp nhận phi vụ đổi chác đầy quan trọng này. Tôi đã bị sức ỳ tâm lý quá lâu và, nhờ trời, nhờ Kim, tôi đã có được cú huých cần thiết để bắt đầu những chuỗi ngày phiêu lưu kỳ thú khó quên thời trẻ.
.
"Alô? Làm ơn cho tôi gặp giáo sư Reynolds?"
Giật mình, tôi không biết mình có nghe lầm không. Người Mỹ phải hello chứ sao lại alô, hay là ...
"Cô nhắn ông ấy gọi lại cho tôi nhé. Jacqueline. Merci."
Tôi chưa kịp hỏi số điện thoại thì bà ấy đã chào tạm biệt rồi cúp máy. Cú điện thoại đầu tiên của tôi!
Về sau, Kim cười ngất và xin lỗi tôi vì quên dặn, giáo sư R chả bao giờ gọi lại cho ai cả, ngoại trừ vài cái tên mà Kim phải thuộc lòng. Nhưng Kim sẽ không bao giờ biết rằng Jacqueline là một cái tên quan trọng mà giáo sư sẽ luôn gọi lại, dù ông bận rộn đến đâu!
Jacqueline là một phụ nữ nhỏ nhắn, xinh xắn, với nước da trắng mịn như sứ, không tỳ vết, không cho người ta đoán nổi tuổi thật của bà. Sở hữu đôi mắt màu nâu sáng, tiệp với màu tóc nâu hạt dẻ búi cao kiểu Pháp, để lộ chiếc gáy trắng ngần và phơi bày chiếc cổ cao và mảnh, dáng đi khoan thai, tự tin và quý phái, bà là người có sức hút thật đặc biệt đối với bất cứ ai.
Hôm ấy bà đến văn phòng như đã hẹn với giáo sư, nhưng ông vẫn chưa về kịp giờ hẹn. Kim thì nghỉ ốm, tôi đành phải miễn cưỡng tiếp chuyện với bà.
"Tôi đã nghe nhiều về cô, hôm nay mới có dịp tiếp xúc. Cô thật dễ thương, và ngoài đời cô thân thiện hơn trên điện thoại. Mà có sao đâu, người ta cũng nhận xét y như thế về tôi đấy!"
"Cám ơn bà. Tôi hy vọng Kim chỉ nói tốt về tôi!"
Tôi ngần ngại cố nói một câu bông đùa để che bớt sự hồi hộp của mình.
"Kim? Đâu có. Là từ miệng giáo sư Reynolds ấy chứ! Ông ta toàn nói những lời trìu mến về cô. Thế nên tôi cũng có chút tò mò."
Tôi suýt buộc miệng hỏi bà có nhầm tôi với người khác không đấy, nhưng rồi thôi. Tôi muốn âm thầm khai thác thêm một chút chi tiết nhưng không biết phải mở lời như thế nào, thì bà đã nói tiếp.
"Ông ta chẳng bao giờ khen chê gì ai cả, thế nên tôi hơi ngạc nhiên khi thấy ông ta khen cô."
Rồi bà nhìn quanh quất khắp phòng và nói tiếp, "Mà thật, tôi có cảm giác phòng ốc gọn ghẽ tinh tươm hơn, và tràn đầy ánh sáng. Giáo sư Reynolds cũng có vẻ thân thiện hơn, vui vẻ hơn ..."
Tôi cố điểm lại trong trí nhớ của mình, liệu có chi tiết nào cho thấy ông Reynolds thân thiện và vui vẻ hơn hồi tôi mới vào, nhưng tôi bó tay, chẳng thể nào tin rằng những gì Jacqueline vừa nói là sự thật, mặc dù tôi không hề nghĩ rằng bà nói dối. Mà bà việc gì phải tâng bốc tôi không cần thiết chứ?!
"Tôi nghĩ cô đã mang đến luồng sinh khí mới cho văn phòng của ông ấy."
Lần này, không rõ bà ám chỉ giáo sư Reynolds hay Kim? Nên tôi cố nói đỡ cho cả hai.
Tôi chấp nhận lời mời hấp dẫn của bà không chút do dự hay khách sáo. Không nhớ mình đã nói những gì sau đó, nhưng dường như tôi có nói "Khi nào thì ta có thể bắt đầu, thưa bà?".
Công việc vẫn chẳng có gì mới mẻ, nhưng tôi đã tự dặn lòng rằng ai cũng phải bắt đầu từ nấc thang đầu tiên. Thật kỳ lạ, đúng là "đời thay đổi khi chúng ta thay đổi", tôi nhận thấy mình vui vẻ hơn, ăn mặc đẹp hơn, và trang điểm trở lại. Thậm chí, Kim đã hỏi đùa không biết có phải vì tôi đang yêu hay không! Tôi sắm một đôi giày thấp và mềm mại, vì lúc này tôi phải di chuyển rất nhiều. Tôi tăng cân, nhưng quần áo thì hơi rộng ra, có lẽ phần cân nặng ấy là do tăng cường cơ bắp do đi lại cả ngày. Thật tréo ngoe, Kim ước gì cô ta có thể di chuyển cả ngày như tôi, vì Kim là người rất năng động, trong khi tôi, vốn là người rất ngại va chạm và tiếp xúc, lại đảm nhiệm phần đi lại như con thoi. Thế nên, Kim đề nghị tôi "nhường" một ít việc giao liên và bù lại, tôi sẽ trực điện thoại trong khi cô ta đi vắng. Tôi phát hoảng với đề nghị ấy, mặc dù trong thâm tâm, tôi luôn ao ước được làm việc của Kim. Tôi cực ghét việc nói chuyện với người lạ qua điện thoại, ngại nói chuyện trước đám đông, vì tôi vốn là người hướng nội!
Nhưng, tôi đã can đảm chấp nhận phi vụ đổi chác đầy quan trọng này. Tôi đã bị sức ỳ tâm lý quá lâu và, nhờ trời, nhờ Kim, tôi đã có được cú huých cần thiết để bắt đầu những chuỗi ngày phiêu lưu kỳ thú khó quên thời trẻ.
.
"Alô? Làm ơn cho tôi gặp giáo sư Reynolds?"
Giật mình, tôi không biết mình có nghe lầm không. Người Mỹ phải hello chứ sao lại alô, hay là ...
"Cô nhắn ông ấy gọi lại cho tôi nhé. Jacqueline. Merci."
Tôi chưa kịp hỏi số điện thoại thì bà ấy đã chào tạm biệt rồi cúp máy. Cú điện thoại đầu tiên của tôi!
Về sau, Kim cười ngất và xin lỗi tôi vì quên dặn, giáo sư R chả bao giờ gọi lại cho ai cả, ngoại trừ vài cái tên mà Kim phải thuộc lòng. Nhưng Kim sẽ không bao giờ biết rằng Jacqueline là một cái tên quan trọng mà giáo sư sẽ luôn gọi lại, dù ông bận rộn đến đâu!
Jacqueline là một phụ nữ nhỏ nhắn, xinh xắn, với nước da trắng mịn như sứ, không tỳ vết, không cho người ta đoán nổi tuổi thật của bà. Sở hữu đôi mắt màu nâu sáng, tiệp với màu tóc nâu hạt dẻ búi cao kiểu Pháp, để lộ chiếc gáy trắng ngần và phơi bày chiếc cổ cao và mảnh, dáng đi khoan thai, tự tin và quý phái, bà là người có sức hút thật đặc biệt đối với bất cứ ai.
Hôm ấy bà đến văn phòng như đã hẹn với giáo sư, nhưng ông vẫn chưa về kịp giờ hẹn. Kim thì nghỉ ốm, tôi đành phải miễn cưỡng tiếp chuyện với bà.
"Tôi đã nghe nhiều về cô, hôm nay mới có dịp tiếp xúc. Cô thật dễ thương, và ngoài đời cô thân thiện hơn trên điện thoại. Mà có sao đâu, người ta cũng nhận xét y như thế về tôi đấy!"
"Cám ơn bà. Tôi hy vọng Kim chỉ nói tốt về tôi!"
Tôi ngần ngại cố nói một câu bông đùa để che bớt sự hồi hộp của mình.
"Kim? Đâu có. Là từ miệng giáo sư Reynolds ấy chứ! Ông ta toàn nói những lời trìu mến về cô. Thế nên tôi cũng có chút tò mò."
Tôi suýt buộc miệng hỏi bà có nhầm tôi với người khác không đấy, nhưng rồi thôi. Tôi muốn âm thầm khai thác thêm một chút chi tiết nhưng không biết phải mở lời như thế nào, thì bà đã nói tiếp.
"Ông ta chẳng bao giờ khen chê gì ai cả, thế nên tôi hơi ngạc nhiên khi thấy ông ta khen cô."
Rồi bà nhìn quanh quất khắp phòng và nói tiếp, "Mà thật, tôi có cảm giác phòng ốc gọn ghẽ tinh tươm hơn, và tràn đầy ánh sáng. Giáo sư Reynolds cũng có vẻ thân thiện hơn, vui vẻ hơn ..."
Tôi cố điểm lại trong trí nhớ của mình, liệu có chi tiết nào cho thấy ông Reynolds thân thiện và vui vẻ hơn hồi tôi mới vào, nhưng tôi bó tay, chẳng thể nào tin rằng những gì Jacqueline vừa nói là sự thật, mặc dù tôi không hề nghĩ rằng bà nói dối. Mà bà việc gì phải tâng bốc tôi không cần thiết chứ?!
"Tôi nghĩ cô đã mang đến luồng sinh khí mới cho văn phòng của ông ấy."
Vừa nói, bà vừa bước thoăn thoắt đến trước cửa sổ phòng giáo sư Reynolds, liếc vào, rồi quay trở lại, ra vẻ hài lòng. Tôi đang suy nghĩ mình đã làm gì cho luồng sinh khí của văn phòng này thì bà đã nói tiếp.
"Là hoa từ vườn nhà tôi đấy. Có lẽ cô rất ngạc nhiên khi thấy ông già khô khan ấy luôn mang hoa tươi vào văn phòng? Cám ơn cô đã chăm sóc chúng, trước đây, tôi hơi phật ý khi lần nào đến đây tôi cũng thấy chúng héo úa thảm hại."
"Có lẽ là do ông ấy đi vắng dài ngày và Kim thì không có chia khoá phòng ông ấy?"
"Ô là la, tôi chả bận tâm đến lý do!" Bà khoát tay, vui vẻ. "Đằng nào thì hoa cũng đã chết, và ta không thể thay đổi tính khí của ai được cả! C'est la vie!"
Tôi bắt đầu thấy mến người đàn bà Pháp này. Tôi có cảm giác bà cảm nhận được sự không thoải mái của tôi cách đây vài phút nên đã cố giúp tôi quên nó đi bằng chính sự thoải mái tự nhiên của bà.
"Cô thuận tay trái à?"
"Ồ không. Tại sao bà nghĩ thế?"
"Vì tôi thấy cô đeo đồng hồ bên cổ tay phải, và điện thoại và con chuột máy tính thì đặt bên trái bàn làm việc. Nếu thế thì cô ắt hẳn phải là người thuận cả hai tay?"
Thật là một sự quan sát thú vị. Tôi giật mình, nghĩ đến khả năng mình thuận hai tay, và có lẽ bà nói đúng. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy, nhưng rõ ràng, ngoài việc cầm viết và đũa bằng tay phải ra thì tôi tuần tự dùng cả hai tay cho những việc còn lại mà không nghĩ ngợi gì nhiều. Nhớ cả hồi còn nhỏ, chơi nhảy dây, tôi cũng nhảy ngược chân với đa số các bạn. Đạp xe, tôi cũng bắt đầu khi thì chân trái, lúc chân phải, cứ chân nào rảnh thì dùng thôi.
"Cô có chơi piano không? Người thuận hai tay sẽ có nhiều lợi thế lắm đấy."
Khi tôi cho bà biết là tôi không biết chơi piano nhưng đó là ước mơ, là khát khao của tôi từ tấm bé, thì bà sốt sắng, "Cô có muốn học không? Tôi từng dạy piano và đang rảnh, tôi rất sẵn lòng dạy cho cô!"
Tôi không tin vào tai mình, nhưng lòng thì lâng lâng vui sướng, một niềm hạnh phúc khó tả tràn ngập, đổ xô vào dòng cảm xúc đang nhào lộn tưng bừng trong tôi. Có thật không? Từ hồi bé, tôi đã có khả năng thẩm âm rất tốt. Hễ thấy bất cứ loại đàn nào là tôi phải thử, dù không biết nhạc lý nhưng cứ thử rồi ghi nhớ vị trí các nốt và "chơi" một đoạn bài hát mà tôi thích. Hồi đó mẹ tôi có cô học trò, chị học may và ở nhờ nhà tôi một thời gian. Bạn trai chị ấy cũng là thầy dạy tiếng Anh đầu tiên của tôi hồi tôi 9 tuổi, anh chơi đàn guitar và khuyến khích tôi thử, thế là tôi thử. Sau một tuần thì đầu các ngón tay đau và tê buốt, bầm dập, thế là tôi lơ là với guitar. Nhưng với piano thì không hề. Niềm đam mê học dương cầm vẫn còn ấp ủ trong tôi, chỉ bị tạm quên khi tôi phải bận rộn với những lo toan khác của một đứa con nhà nghèo, và rồi những kỳ thi, những biến cố gia đình ...
"Ngay chiều nay, nếu cô muốn!" Jacqueline dịu dàng mỉm cười.
Thursday, May 19, 2016
Giáng Sinh xưa - Welcome to the real world! (3)
Tôi vẫn chưa có dịp được tiếp xúc trực tiếp với giáo sư Reynolds sau một tuần làm việc. Tính tôi hơi nhát, ngày xưa tôi hầu như chẳng bao giờ chủ động đến chào hỏi hay bắt chuyện với ai mà thường chỉ thích im lặng quan sát mọi người chung quanh, rồi chờ người ta đến bắt chuyện với mình trước. Tôi thích mình được như Kim. Cô rất vui vẻ hoạt bát, miệng lúc nào cũng cười tươi rói, nói chuyện với ai thì luôn làm cho người ấy cảm thấy mình đặc biệt và có hứng trò chuyện lại. Kim là mẫu người thân thiện, luôn niềm nở với bất cứ ai, tôi thích Kim nhưng có điều, suốt ngày tôi gần như phát điên vì tiếng lách cách của đôi gót giày cô nện liên tục trên nền gạch. Cô ta chẳng bao giờ ngồi yên được trên ghế quá 10 phút. Đó là quan sát đầu tiên của tôi về Kim. Còn về ông Reynolds, tôi hoàn toàn mù tịt. Dù nhát, tôi vẫn luôn mỉm cười xã giao và chào ông mỗi khi nhác thấy ông từ xa, nhưng đáp lại, ông chỉ hơi bạnh môi ra một tí cho giống như ông vừa mỉm cười đáp lại, hoặc có khi ông chỉ khẽ gật đầu, rồi ông, như thường lệ, sẽ đi thẳng vào phòng riêng và đóng cửa rồi ngồi lỳ trong ấy cho đến khi ông phải đi vệ sinh hoặc khi có khách.
Dù thất vọng với công việc nhưng tôi đã suy nghĩ lại, cố gạt bỏ những suy nghĩ tiêu cực và nhất là cái sĩ hão của một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học, nhất lại là đại học "xịn". Tôi chẳng là cái đinh gỉ gì trong cái trường đại học bao la này! Thậm chí so với đám sinh viên, tôi cũng chưa chắc hơn gì tụi nó. Tiếng Anh so với đám sinh viên bản địa thì chắc chắn đã thua xa, khả năng tư duy độc lập và critical thinking cần có ở một sinh viên đại học thì đúng là những khái niệm hoàn toàn xa lạ tôi mới nghe lần đầu trong đời. Tôi học cách vui vẻ với thực tế, và tự nhủ, sẽ cố làm tốt công việc của mình, dù tầm thường đến đâu. Rồi tôi sẽ học được nhiều thứ, tôi còn nhiều thứ phải học lắm!
Giáo sư Reynolds hơi giật mình khi nghe tiếng gõ cửa và ngước lên, tôi ngần ngại đứng yên chờ ông mở lời. Hôm nay tự dưng ông không đóng cửa phòng như thường lệ, nên tôi thu hết can đảm đến gõ cửa phòng ông để mang cho ông tách cà phê sáng. Ông trân trối nhìn tôi vài giây, rồi nhìn tách cà phê. Tôi nghĩ ông sẽ nói "cám ơn", mặt ông sẽ vui hơn thường lệ một hoặc hai bậc, và có khi, sẽ mời tôi vào và nhờ tôi mang tài liệu đi đâu đó, nhưng đáp lại, ông chỉ nói cộc lốc "cô có thể đặt cà phê ở cái bàn con này này", rồi ông chỉ vào cái bàn con ở góc phòng, nơi có một bình hoa đã héo và nước bình đã gần bốc mùi. Tôi ngạc nhiên, định hỏi "sao ông không dùng cà phê ngay khi nó còn nóng?" thì ông đã vội nói "tôi sẽ uống ngay, chỉ vì bàn tôi có nhiều giấy tờ quan trọng, tôi không muốn lỡ tay làm vấy cà phê lên trên ấy". Rồi ông lại chúi mũi vào đám bản thảo giấy tờ trên bàn, có lẽ đã quên khuấy về sự có mặt của tôi. Tôi lén thở dài, bước đến cái bàn con, đặt tách cà phê xuống và tiện tay, cầm luôn cái bình hoa héo mang ra ngoài.
- Cám ơn cô!
Tôi vừa kịp nghe ông nói lời cảm ơn khi đã bước ra khỏi phòng được vài bước.
- Nhân tiện, phiền cô đóng cửa phòng giúp tôi.
Lần này thì tôi không lén thở dài nữa, tôi không kịp che giấu sự chán nản của mình về thái độ lạnh lùng gần như bất lịch sự của ông ấy. Tôi đặt bình hoa đánh cộp xuống cái bàn của mình ở góc phòng (tôi đã có một cái bàn riêng!), rồi quay lại phòng ông, rất muốn đóng sập cửa cho thật mạnh rồi bỏ đi luôn không bao giờ quay trở lại nơi ấy nữa, nhưng có cái gì đó đã ngăn cản tôi và, việc ấy đã không xảy ra. Tôi bắt gặp cái nháy mắt đầy hàm ý của Kim ở góc phòng bên kia. Dường như nó ám chỉ lời nhắn nhủ "welcome to the real world!!".
Dù thất vọng với công việc nhưng tôi đã suy nghĩ lại, cố gạt bỏ những suy nghĩ tiêu cực và nhất là cái sĩ hão của một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học, nhất lại là đại học "xịn". Tôi chẳng là cái đinh gỉ gì trong cái trường đại học bao la này! Thậm chí so với đám sinh viên, tôi cũng chưa chắc hơn gì tụi nó. Tiếng Anh so với đám sinh viên bản địa thì chắc chắn đã thua xa, khả năng tư duy độc lập và critical thinking cần có ở một sinh viên đại học thì đúng là những khái niệm hoàn toàn xa lạ tôi mới nghe lần đầu trong đời. Tôi học cách vui vẻ với thực tế, và tự nhủ, sẽ cố làm tốt công việc của mình, dù tầm thường đến đâu. Rồi tôi sẽ học được nhiều thứ, tôi còn nhiều thứ phải học lắm!
Giáo sư Reynolds hơi giật mình khi nghe tiếng gõ cửa và ngước lên, tôi ngần ngại đứng yên chờ ông mở lời. Hôm nay tự dưng ông không đóng cửa phòng như thường lệ, nên tôi thu hết can đảm đến gõ cửa phòng ông để mang cho ông tách cà phê sáng. Ông trân trối nhìn tôi vài giây, rồi nhìn tách cà phê. Tôi nghĩ ông sẽ nói "cám ơn", mặt ông sẽ vui hơn thường lệ một hoặc hai bậc, và có khi, sẽ mời tôi vào và nhờ tôi mang tài liệu đi đâu đó, nhưng đáp lại, ông chỉ nói cộc lốc "cô có thể đặt cà phê ở cái bàn con này này", rồi ông chỉ vào cái bàn con ở góc phòng, nơi có một bình hoa đã héo và nước bình đã gần bốc mùi. Tôi ngạc nhiên, định hỏi "sao ông không dùng cà phê ngay khi nó còn nóng?" thì ông đã vội nói "tôi sẽ uống ngay, chỉ vì bàn tôi có nhiều giấy tờ quan trọng, tôi không muốn lỡ tay làm vấy cà phê lên trên ấy". Rồi ông lại chúi mũi vào đám bản thảo giấy tờ trên bàn, có lẽ đã quên khuấy về sự có mặt của tôi. Tôi lén thở dài, bước đến cái bàn con, đặt tách cà phê xuống và tiện tay, cầm luôn cái bình hoa héo mang ra ngoài.
- Cám ơn cô!
Tôi vừa kịp nghe ông nói lời cảm ơn khi đã bước ra khỏi phòng được vài bước.
- Nhân tiện, phiền cô đóng cửa phòng giúp tôi.
Lần này thì tôi không lén thở dài nữa, tôi không kịp che giấu sự chán nản của mình về thái độ lạnh lùng gần như bất lịch sự của ông ấy. Tôi đặt bình hoa đánh cộp xuống cái bàn của mình ở góc phòng (tôi đã có một cái bàn riêng!), rồi quay lại phòng ông, rất muốn đóng sập cửa cho thật mạnh rồi bỏ đi luôn không bao giờ quay trở lại nơi ấy nữa, nhưng có cái gì đó đã ngăn cản tôi và, việc ấy đã không xảy ra. Tôi bắt gặp cái nháy mắt đầy hàm ý của Kim ở góc phòng bên kia. Dường như nó ám chỉ lời nhắn nhủ "welcome to the real world!!".
Wednesday, March 30, 2016
Giáng Sinh xưa - Life should be beautiful! (2)
Khuôn viên
đại học J. H. hoành tráng hơn sức tưởng tượng của tôi rất nhiều. Bước lộp cộp trên đôi giày cao gót, tôi lo quá
vì đã gần đến giờ phỏng vấn mà vẫn bơ vơ không tìm được nơi cần đến, càng ngao
ngán hơn trước viễn cảnh sẽ gặp ông giáo sư nghe nói là cực kỳ khó khăn cáu kỉnh,
người sẽ phỏng vấn tôi chiều nay. Bọn
sinh viên đi từng tốp cười nói huyên thuyên, thấy tôi lớ ngớ ra vẻ ma mới, một
đứa tiến đến, vẻ thân thiện, hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không. Khi thấy tôi chìa ra mảnh giấy ghi tên số hiệu
văn phòng, chúng hơi ngớ ra, hỏi tôi đến đấy làm gì. Thì ra, bọn chúng tưởng tôi cũng đi học!
-
Mời
vào!
Một giọng
nói sang sảng từ trong phòng vọng ra, tôi riu ríu, ngần ngại đẩy cửa bước
vào. Một phụ nữ da đen trung niên to đậm,
bề ngang to chừng gấp ba lần tôi và bề dài cũng cỡ hơn tôi một nửa, hạ cặp kính
lão xuống dưới mũi để nhìn tôi cho rõ rồi ra hiệu mời ngồi. Rồi bà lặc lè bước đến mở một cánh cửa khác
phía cuối phòng, hơi ngó nghiêng, rồi lại bước ra.
-
Cô
Kim vẫn đang họp với giáo sư, nhưng sắp xong rồi. Khi nào xong, cô ấy sẽ ra gặp cô. Cô có cần uống gì không?
-
Cho
tôi xin ly nước ạ, cám ơn bà.
Tôi đảo mắt
nhìn quanh một lượt khắp phòng. Thật ngạc
nhiên. Tôi cứ tưởng văn phòng của ông ta
phải hoành tráng lắm, so với bề dày thâm niên kinh nghiệm giảng dạy và nhất là
những đóng góp khoa học giá trị của ông.
Ngược lại, ông thu mình trong một căn phòng khiêm tốn cuối dãy hành lang
hơi tối tăm chật hẹp và vắng vẻ, và theo tôi, không xứng với chức vị và tiếng
tăm của ông chút nào. Dù vậy, sau này tôi
vẫn thích nơi đây hơn là dãy phòng đẹp đẽ ở sảnh chính, vốn lúc nào cũng đông
đúc ồn ào.
Kim họp với
giáo sư xong thì ra gặp tôi. Cô ta hỏi
tôi qua loa vài câu gần như chẳng liên quan gì đến công việc, rồi cho tôi biết
đây là công việc tạm thời vài tháng, và hỏi khi nào tôi có thể bắt đầu. Tôi không tin vào tai mình. Người Mỹ tuyển người dễ đến thế sao?
Hôm sau,
tôi chính thức bắt đầu nhận việc. Là người
đến sớm nhất, tôi bước vào, mở đèn, kéo rèm cửa sổ, nhìn quanh quất, không biết
mình sẽ ngồi ở đâu. Bàn của Kim chất
hàng đống giấy tờ, sách vở, vài tờ báo mở hờ hững, một cái bánh ngọt đang ăn dở,
ly nước vẫn còn đầy chưa được động đến, máy vi tính vẫn chưa tắt. Tôi hơi bâng khuâng …
Đó là một
ngày thật dài, dài lê thê, ngao ngán, chán chường. Trời đẹp, tôi quyết định không bắt xe bus mà
bách bộ về nhà, vừa đi vừa suy nghĩ về cái ngày đầy thảm hại và cả tương lai của
tôi ở cái trường này. Té ra, người ta
không thuê tôi làm trợ lý giáo sư, một công việc mới nghe qua đã thấy oách xì xằng
và đầy quan trọng, mà là làm … trợ lý của trợ lý. Thay vì được mang ô cắp cặp đi theo giáo sư
tham dự những buổi thuyết trình quan trọng, được làm việc với những nhà xuất bản đang
tranh nhau độc quyền phát hành sách của ông ấy, được tìm tòi nghiên cứu những
tài liệu mà ông cần, v.v. và v.v., toàn những công việc quan trọng, tôi đây phải làm những gì thừa thãi mà trợ lý không
thích làm, chẳng hạn như đi giao giấy tờ sổ sách cho các phòng ban khác, hoặc ngồi
đồng ở máy photocopy hoặc máy in hoặc máy fax khi được yêu cầu. Một sự chuyển giao sẽ có thể xảy ra nếu tôi làm tốt công việc để có thể thay thế Kim về sau này.
Công viên W. mới hôm qua còn đẹp đẽ thêu đầy hoa và ướp đầy nắng vàng, chim chóc ca hát líu lo và trẻ con thì chạy đùa râm ran khắp lối, hôm nay những thứ phù phiếm ấy chẳng còn mảy may tác động vào bất kỳ giác quan nào của tôi nữa. Chỉ có chừng đấy
thôi, khi ấy tôi đã thấy tự ái chất cao thành núi. Bệnh sĩ thường không đi đôi với kiên nhẫn, vốn là đức tính cực kỳ quan trọng cho bất cứ sự thành công nào trong đời. Tôi còn nhiều thứ phải học lắm!
Monday, March 14, 2016
Sống chung với lũ
Sáng nay đọc bài này mình cứ tủm tỉm cười, nhớ đến những câu chuyện cá nhân và của bạn bè xung quanh những chuyện lặt vặt về bất hòa giữa vợ chồng. Hồi xưa mình cứ tưởng mình là chuyên gia tâm lý rồi ấy, bạn bè ai có tâm sự gì cũng hay tìm đến mình để giãy bày, nhưng từ khi lấy chồng mới biết, love is not everything. Muốn thương thì phải hiểu, để hiểu (rồi thông cảm cho nhau được) thì phải thương trước. Hai cái này phải song hành thì cuộc sống chung mới thăng hoa. Hồi đó mình chỉ yêu thôi chứ chưa đạt được đến hiểu. Sau khi trải qua giai đoạn sống chung đầy thử thách, mình mới hiểu ra được đôi điều hết sức đơn giản. Sống chung mà không hiểu và thông cảm cho nhau được thì cuộc sống vợ chồng thật là một cực hình.
Bây giờ mỗi khi có gì đó bực chồng, mình cứ tự lầm bầm "sống chung với lũ, sống chung với lũ", tự dưng lại hết bực :-)))))
http://www.houzz.com/ideabooks/62413145?utm_source=Houzz&utm_campaign=u2634&utm_medium=email&utm_content=gallery6
Subscribe to:
Posts (Atom)
Happy Valentine's day!
Tình hình là Valentine năm nay mình đành lỗi hẹn với vụ ra sách GSX, là bởi vì nhà xuất bản làm việc theo kế hoạch từ đầu năm nên muốn nhét ...
-
Năm cuối đại học, tôi đi làm thêm ở công ty của anh - một công ty quảng cáo tư nhân do anh và nhóm bạn thành lập. Khi ấy tôi c...
-
Chưa đầy một tháng nữa là con sẽ tròn 2 tuổi. Con chậm nói so với tuổi, nhưng trí nhớ của con thì tuyệt vời. Hôm nọ mẹ phát hiện cái đĩa sứ ...
-
Mình rất kỵ việc mua quá nhiều đồ chơi cho con. Không chỉ phí tiền mà còn không tốt cho con. Phí tiền thì rõ rồi. Đồ chơi giờ toàn made in C...